Đăng bởi: lehobac | 17/05/2010

Thực hư chuyện "nàng thơ của Hàn Mặc Tử (Bài 4): Lời "tiên đoán" về cái chết của thi sĩ đồng trinh Hàn Mặc Tử…

Cuối cùng, Hàn Mặc Tử đã từ giã cõi đời trong cô độc đúng như những câu thơ mà trước đó không lâu, ông viết cho người đẹp Thương Thương. Những giây phút cuối cùng của thi sĩ tài hoa bạc mệnh, chỉ có người đàn ông tên Xê và các bà xơ của nhà thương Nam Quy Hoà – Bình Định, ở bên cạnh…

Những dòng chữ cuối cùng

Mùa thu năm 1940 ấy thật nặng nề với Trí. Buổi sáng ngày 20/9/1940, anh Bửu Dỏng và thầy Hứa, chánh văn phòng bệnh viện ra xe ô tô tiễn Trí vào Quy Hoà và trao hồ sơ bệnh lý cho tài xế. Trí đùa: Hồ sơ mỏng quá. Dỏng liền cười bảo: Cậu có đau gì đâu mà ghi cho nhiều. Xe nổ máy và sau đó dừng lại trước cổng nhà thương Nam Quy Hoà. Mẹ Juetta lẹ làng chạy ra cửa tiếp hồ sơ nơi tay bác y tá đứng tuổi. Trí bị tê hai chân, gắng gượng lắm mới đứng lên được, run run bước từng bước một, tay bám vào xe cho khỏi ngã. Mẹ Juetta gọi đưa tay cho mẹ đỡ. Vừa nói, mẹ bước tới xốc đỡ Trí xuống đất nhẹ nhàng. Theo bàn tay đỡ của mẹ Juetta, Trí cố đi như lết, đầu cúi xuống trước bao cặp mắt dán theo. Tới giường số 3, mẹ nói: Trí, đây là chỗ của con. Người bệnh tên Xê giúp Trí mở hành lý gói bằng giấy báo cũ của Trí để lên đầu chiếc tủ con rồi tiếp tay với anh lao công trải chiếc chăn cho Trí. Trí nhìn con số của mình, số 1134 và cười chua chát: Tổng là 9 cùng rồi. Người bệnh tên Xê nói với Trí khi thấy Trí đang vịn vào giường run run: Anh Trí lên giường nằm cho khoẻ. Trí gật đầu rồi rút đôi chân sưng đen ra khỏi đôi ba ta trắng cũ rách đã ngả sang mầu vàng xám và có mùi hôi thối, đã bị đạp nhẹp ở cuối gót để thành dép lê dễ xỏ chân. Trí ngồi im lặng trong bộ đồ bà ba trắng, ngoài khoác chiếc áo veston màu trắng bám đầy bụi đường, cổ choàng chiếc khăn lông trắng. Trang phục rườm rà mà không che nổi tấm thân gầy còm, đau yếu của Trí. Trí để nguyên quần áo nằm lim dim mắt. Bữa cơm đầu tiên ở nhà thương, Trí khập khiễng lê từng bước ra bàn ăn và cố gắng ăn nửa chén cơm chan với canh rau. Món cá biển rất tươi, ngon mà Trí không hề đả động đến. Mẹ Juetta ép Trí ăn thêm. Trí một mực từ chối, chỉ xin một chén trà nguội rồi đi nằm.

Đường lên mộ Hàn Mặc Tử được cải táng trên đồi Ghềnh Ráng (nay là Đồi Thi Nhân) - Quy Nhơn.

Đường lên mộ Hàn Mặc Tử được cải táng trên đồi Ghềnh Ráng (nay là Đồi Thi Nhân) – Quy Nhơn.

Đêm ngày 23/10/1940, đã qua ba tuần lễ ở Quy Hoà, một linh cảm từ đâu đó ập đến khiến Trí không yên. Trí cảm thấy cần phải tự rửa sạch tâm hồn mình trước khi không làm thêm được gì nữa. Và Trí cặm cụi viết bài văn bằng tiếng Pháp: “La Pureté de l’âme”, nghĩa là “Linh hồn thanh khiết”. Trí bắt đầu viết. Trí bồi hồi khi thấy sự thanh sạch của lòng mình trải ra (bản dịch sang tiếng Việt): “Hỡi các thiên thần, thiên thần của Chúa, thiên thần bình an và hoan lạc, mang cho tôi một tràng hoa… Tôi muốn ngân cao những lời ca ngợi, đẫm khát khao trong suối ngọt ngào khi chị, mẹ cất tiếng hát: Chúa cứu tôi, Chúa cứu tôi! Tôi muốn trọn đời ngưỡng mộ vẻ trắng trong nguyên vẹn, nguồn tươi, ánh sáng, thơ… vì tất cả đấy là hình tượng của LINH HỒN THANH KHIẾT… Hỡi các thiên thần, thiên thần của Chúa, thiên thần bình an và hoan lạc, hãy tung hoa hồng, hoa súng, tiếng hát thanh tao, hơi nhạc đẫm hương và tràn trề đức hạnh, can đảm cùng hạnh phúc xuống cho những người hầu Chúa. Phan-xi-cô Trí. Cảm tạ Chúa”. Viết đến đó, Trí buông bút, thiếp dần vào mộng mị. Lúc ấy là rạng sáng ngày 24/10/1940.

Giây phút cuối đời của thi sĩ đồng trinh…

Đã đến lúc Trí chỉ còn biết bình tĩnh đợi chờ cái gì sẽ đến với mình. Lối đi của số phận đã rõ. Em trai Trí là Tín lần đến tận nơi hẻo lánh này ở Quy Nhơn thăm Trí trước khi đi Lào. Nhìn thấy Tín tới mà Trí vẫn ngồi bất động hướng ra khơi. Hai anh em nhìn nhau lặng lẽ. Tín khóc, vội lấy kính râm đeo vào. Trí phải nói lảng ra: “Lúc này anh không lần hạt được nữa, viết đã khó khăn lắm rồi”. Và bình thản nói về chuyện khác. Tín nói với Trí rằng sẽ đi qua Lào và ngỏ ý về những bút tích đã dồn lại ở nhà, sẽ giao cho ai lo xuất bản. Chàng mỉm cười phó thác: “Thôi em đừng lo, em lo nhiều rồi, anh không muốn làm phiền em. À, còn chút này, là cho anh một pho tượng Đức Mẹ ban ơn bằng thạch cao. Anh ước ao lâu lắm rồi”. Chàng nói tiếp: “Đằng nào thì cũng phải đến chỗ đó, cầu nguyện cho anh với… Nghĩ lại mình cuồng dại quá, đã bỏ phí nhiều thì giờ vô ích, chạy theo những cái mà mình phải bỏ lại”. Rồi chàng cười vui vẻ, cái cười như tự chôn cất mình vào một sự bình tĩnh, hình thể chàng lúc này đã như một cái xác ướp trong Kim Tự Tháp Ai Cập. Gió Ghềnh Ráng vẫn rì rào, Trí đã thấy tận tường từng hơi thở khó khăn trong cái nội tạng hư hỏng do bọn lang băm gây nên.

Ngày 30/10/1940, buổi sáng cho đến buổi tối, Trí đi kiết đến kiệt sức, không đến nhà thờ được. Trí phờ phạc, xanh xao và xin mẹ Juetta vào phòng liệt cho tiện. Cho tới ngày 7/11/1940, bệnh kiết vẫn không giảm. Trí khô đét, gầy guộc đến thiểu não. Đêm ngày 8/11/1940 là phiên trực của Xê. Lúc 21 giờ, Trí đột nhiên ngồi dậy lấy từ trong áo gối ra hai tập giấy đánh máy đóng rất đẹp hỏi Xê: Anh Xê đã có tình yêu chưa? Xê đáp: Từ nhỏ tới giờ, tôi chỉ có một tình yêu duy nhất với Thiên chúa mà thôi. Trí gật đầu, lấy cây chì trong túi áo ghi tặng Xê tập thơ “Cầu nguyện”. Còn tập thơ “Đời” ghi tặng anh Trung, chủ quán tạp hoá thường cung cấp trà uống và đôi ba phong bánh kẹo cho Trí. Xê nghẹn ngào không nói lên câu, tay mân mê hai tập thơ mỏng. Đêm ấy, Trí đi tiêu nhiều. Mỗi lần đi đều có chút đờm và vài giọt máu. Trí mệt lả. Đêm càng khuya, càng mệt đến tuột xuống giường, không đi nổi. Buổi sáng ngày 9/11/1940, sau khi khám bệnh cho Trí, mẹ Juetta bưng chén thuốc cho Trí uống xong, nói: Chiều nay có xe đi mời cha tuyên uý vào xức dầu cho con. Trí gật đầu, dạ rất nhỏ. Điều này, Trí đã thấy nên rất tỉnh táo dọn mình, sốt sắng dọn mình, không lo sợ. Trong tâm tưởng Trí bây giờ tràn đầy ánh sáng ân phước của Đức Mẹ Maria. Lúc 6 giờ 45 phút ngày 10/11/1940, cha cho Trí chịu phép xức dầu và rước lễ. Ngày ấy, Trí vẫn đi tiêu nhiều nhưng thấy tinh thần tươi tỉnh. Trí đọc cho Xê địa chỉ của Quách Tấn và Trần Thanh Mai để báo tin khi Trí qua đời. Còn gia đình thì thể nào chú Hành vào sẽ biết và sẽ báo tin. Đêm xuống, Xê trực cùng mẹ Juetta và xơ Jueienne. Sau 3 lần thăm, tất cả đều biết Trí sẽ ra đi.

Rạng sáng ngày 11/11/1940, Trí tắt thở. Linh hồn Trí bay lên trong tiếng cầu nguyện của toà nhà thương. Tài sản ở lại với thân xác gồm một bộ bà ba trắng cũ, một bộ veston cũ, một ba ta sắp hư, một gối con con, một cuốn sách của Rousseau dầy 200 trang. Tuyệt nhiên không có một đồng xu hào trong túi. Chỉ có bài văn xuôi “La Pureté de l’âme”…

Nhà thương mai táng Trí ở chân Đèo Son. Đời Trí dường như đã an bài với tên Thánh Francois để đến khi lìa xa cõi đời lại quy thổ nơi phần đất của dòng tu Francois d’Assise (Phan – xi – cô khó khăn). Đời Trí gắn với chữ Bình. Sinh ở Quảng Bình. Sống ở Bình Định. Làm báo ở Tân Bình (Sài gòn). Thích nhạc Nam Bình. Yêu ở Bình Thuận. Và chết ở Bình Định. Đúng là Trí ra đi đơn độc đúng như lời thơ “tiên đoán” của ông về cái chết của mình trước đó không lâu: “Một mai kia ở bên khe nước ngọc/Với sao sương anh nằm chết như trăng/Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc/Đến hôn anh và rửa vết thương tâm”. Nhưng có lẽ, chính lúc người cùi Nguyễn Trọng Trí kết thúc ở tuổi 28 thì lại bắt đầu sự sống, sự bất tử của một thi sĩ lớn – thi sĩ đồng trinh Hàn Mặc Tử.

Lã Xưa
(Theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha)
(Hết)

Nguồn: http://giadinh.net.vn/20100513045152915p0c1003/loi-tien-doan-ve-cai-chet-cua-thi-si-dong-trinh-han-mac-tu.htm


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: