Đăng bởi: lehobac | 06/05/2010

Quy Nhơn, một thời thơ ấu

Tôi cất tiếng khóc chào đời nơi cuối dòng sông Latinh chảy ra đầm Đề Gi thuộc huyện Phù Mỹ. Chiến tranh khốc liệt của ba quận bắc Bình Định ngày đó là Tam Quan, Bồng Sơn và Phù Mỹ là nguyên do để gia đình tôi trôi dạt và định cư tại Quy Nhơn.

Mảnh đất Quy Nhơn đón tôi khi hãy còn bé. Qua bao biến cố và dòng thời gian trôi nhanh, từ một cậu bé tôi đã trưởng thành. Quy Nhơn còn đọng lại trong tiềm thức của tôi về một quãng thời gian đẹp nhất của một đời người.

Ngày ấy…

Vừa chân ướt chân ráo đến Quy Nhơn, việc cha tôi quan tâm nhất là việc học của con cái. Vốn là người một chữ cắn đôi cũng không biết, nhưng trong con người ông luôn coi trọng việc chữ nghĩa. Câu nói mà anh em tôi thường nghe vẫn là “Của như non không bằng cho con ba chữ”.

Ông dẫn hai đứa con lem luốc đến trường Nguyễn Trường Tộ để xin học (nay là THCS Đống Đa ở gần chợ Tháp Đôi). Đây là trường Tiểu học cộng đồng như loại hình trường công ngày nay. Chắc có lẽ cũng vì tuyển theo tuyến như bây giờ, hay do một điều gì đó mà thầy Hiệu trưởng không đồng ý nhận hai anh em tôi. Không phải là người Quy Nhơn. Không có một miếng giấy lận lưng. Ba cha con tôi lặng lẽ bước những bước chân nặng trĩu ra về.

Đi được mấy bước, tôi nghe thầy Phan Minh Phước nói với thầy Hiệu trưởng “Người ta có hai đứa, thầy nhận cho người ta một đứa, không thì cũng tội nghiệp cho mấy đứa nhỏ”.

Thầy Hiệu trưởng gọi ba cha con tôi lại. Thầy Hiệu trưởng nhìn tôi và không hiểu sao ông lại chọn và nhận tôi vào trường.

Tôi vào lớp 3 của cô Đỗ Thị Dưỡng là vợ thầy Phan Minh Phước. Ban đầu Cô cũng không biết tôi học hành thế nào và tôi thường xuyên gọi lên bảng trả bài. Tháng đầu tiên tôi xếp vị thứ là 30/40 học sinh. Tháng sau tôi xếp ở vị trí 10/40 và sau vài tháng tôi xếp vị thứ 1/40. Sau 3 năm học ở trường này tôi chưa bao giờ xếp vị thứ trên 5 cả.

Không ngờ chỉ một câu nói của thầy Phan Minh Phước mà cuộc đời tôi đã khác so với người anh của tôi. Vì học trường tư thục ngày ấy học phí cao so với gia đình mới ở quê vô, nên anh tôi phải bỏ học giữa chừng.

Câu nói của thầy Phước đối với tôi là câu nói “Sống để bụng, chết mang theo” trong cuộc đời.

Rồi tôi lớn lên…

Không có tiền mua đất cất nhà. Cha tôi phải lên chân núi Một (nay là Khu vực 2 Phường Đống Đa) phá núi lấy đất làm nhà. Anh em tôi trưởng thành từ mảnh đất chân núi ấy.

Tôi lớn lên, đi học một buổi và đi chài một buổi. Ngày đó, con sông Hà Thanh từ Cầu Đôi chạy xuống đến cầu chữ Y buổi chiều nước ròng rất nhiều cá. Loại cá Kiền, cá Đấu to bằng cổ tay chiều nào tôi cũng chài được cả giỏ. Vì là khu hay xảy ra chiến sự nên những người đi chài không ai dám ra khu vực Hưng Thạnh, sông Ba, sông Năm, đìa Ông Cha để chài. Chính nhờ điều này mà thu nhập từ việc đi chài đủ để nuôi con cái. Nhiều lần tôi đã gặp mấy anh du kích nhưng không nên nói lại với ai. Cha tôi căn dặn như thế (Khu vực Hưng Thạnh là nơi ngày 31/3/1975 Tỉnh ủy Bình Định và BCH Trung đoàn 93 đặt sở chỉ huy để chuẩn bị giải phóng thành phố Quy Nhơn).

Lộ trình Hưng Thạnh – sông Ba – đìa Ông Trấp – cầu Đôi cứ năm này tháng nọ qua đi trong tôi.

Khi con nước dưới biển hết tôi lại băng đồng đi chài cá nước ngọt. Từ Cầu Đôi lên chợ Dinh, rồi cầu số 7, cầu số 8, cầu Trường Úc… Cầu số 7 có đặc điểm là bùn cá trê rất nhiều. Cầu số 8, cầu Trường Úc đất cát sạch nên chỉ có cá chép và cá mè Luối . Từ cầu số 8 đi ra vùng Quảng Vân – Phước Thuận rồi ngả ba Phước Thuận – Phước Sơn khu vực này có đủ các loại cá chứ không có cá đặc thù. Nhiều khi vùng này cũng có chiến sự, có bữa vác chài chạy có cờ vì hai bên đánh nhau. Từ đây tôi băng đồng nhắm hướng Quy Nhơn mà về. Có một vị trí mà tôi không bao giờ bỏ sót là dòng sông chợ Dinh chảy về hướng Lương Nông (sau Giải phóng là Công ty Vật Tư Bình Định) có một khúc sông cạn mà tôi luôn chài bắt được cá chép đem bán cho dân ở khu vực này. Người thường mua cá chép nhất là một chủ quán ăn ở bến xe Chợ Dinh bây giờ.

Rồi ngả tư Tuy Phước… đi ra hướng Bắc có cầu 15, cầu 20, Huỳnh Mai – Phước Nghĩa với đặc sản cá phi rất nhiều. Chỉ cần chài chừng một lát là cá phi bằng hai ba ngón tay đầy giỏ, bán cho những người dân xung quanh cũng kiếm bộn tiền. Cá phi ở vùng này nước đục nên rất béo và mềm, người dân kho với nghệ lấy nước chấm với rau muống.

Quay lại ngả tư đi về hướng nam gặp QL1 là dịch Ông Đô, cầu xe lửa Diêu Trì. Đi lên hướng tây là chợ Huyện với đặc sản “nem chợ Huyện” nổi tiếng.

Sau giải phóng đất nước…

Từ bến đò Đống Đa tôi đi xuồng máy ra Đập Mới thuộc xã Cát Chánh – Phù Cát. Tôi lang thang chài dọc theo con sông Phú Hậu lên đập cây Bông, chợ Gò Chim. Rồi Lạc Điền – Phước Thắng giáp với Gò Bồi – Phước Hòa.

Sông Phú Hậu là con sông cát, nước đục rất nhiều cá chép. Mỗi ngày một lần tôi đều gửi cá về Quy Nhơn để bán.

Vùng đất Phú Hậu, Chánh Hữu, Chánh Đạt thuộc xã Cát Chánh có đặc sản là khoai lang. Khoai lang ở đây có vị ngọt và bùi rất độc đáo. Chợ Cách Thử nơi có Hòn vọng Phu trên núi là chợ chuyên bán khoai lang và sợi Trân dệt chiếu.

Dọc theo con sông Phú Hậu có một loại rau muống. Người dân gọi là rau muống tía (có màu tím). Loại rau muống này rất mềm và ăn rất ngon.

Hà An Mỹ

Nguồn: http://binhdinhngaynay.com/newsdetails.asp?NewsId=new_102125210704


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: