Đăng bởi: lehobac | 05/04/2010

An thái-Vùng đất văn hóa và thượng võ

An Thái là vùng đất ở phía tây huyện An Nhơn (Bình Ðịnh) giáp với huyện Tây Sơn, cách Viện bảo tàng Quang Trung không xa. Vùng đất này nổi tiếng về truyền thống văn hóa và thượng võ.

Quang cảnh hội đồ giàn

Quang cảnh hội đồ giàn

An Thái vốn là thủ phủ của phủ An Nhơn, nay là huyện An Nhơn, nơi có thầy giáo Trương Văn Hiến từ Ðàng ngoài vào mở trường dạy văn và dạy võ, mà trong số người theo học, có ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. An  Thái  được  coi  là cái nôi của võ Bình Ðịnh, với bún Song thằn chế biến từ bột đậu xanh, và cùng với làng An Vinh bên kia sông, tạo thành câu nói dân gian: “Trai An Thái – Gái An Vinh” để nói về võ nghệ và tài khéo léo của con người. An Thái có lễ hội Ðổ giàn, như người xưa đã đề cập trong câu ca dao: Rủ nhau đi hội Ðổ giàn – Ngày Rằm tháng bảy đò ngang chật đò – Trắng phau đôi cánh con cò – Hội Giàn vui lắm trễ đò uổng công.
Những câu ca đó tôi đã thuộc lòng từ nhỏ. Hồi còn là học trò ở trường huyện An Nhơn, tôi đã cùng với bạn bè lên chơi An Thái, dự hội chùa Bà, dự hội Ðổ giàn. Ngồi xe ngựa từ thành Bình Ðịnh đi An Thái phải mất hơn một giờ đồng hồ. Mặc cho đường đất trải đá dăm, bánh xe chạy gập ghềnh, lũ chúng tôi không thấy mệt mà rất vui. Vì được đi qua khu kiến trúc họ đạo Kim Châu, được tận mắt ngắm con đường xe lửa xuyên Việt chạy qua quê mình, rồi được đi qua chợ Cây Bông, cầu Phụ Ngọc. Ði qua những làng xóm êm đềm sau lũy tre xanh, những cánh đồng lúa xanh mơn mởn dưới nắng mai. Ở đâu cũng đẹp, cũng lạ, chúng tôi nhìn ngắm say sưa. Ðến An Thái, cảm nhận của du khách là một làng cổ với nhiều chùa chiền, hội quán, một thị tứ bán buôn nhộn nhịp, một làng nghề thủ công nổi tiếng với nghề làm bún Song thằn, làm giấy bản, lò nhuộm… Buổi chiều ở An Thái, khách được xem khai hội chùa Bà. Chùa trang hoàng nhiều cờ phướn, nghi ngút khói hương và tiếng tụng niệm kinh. Thiện nam tín nữ tâm niệm, cầu xá tội vong nhân và báo hiếu mẹ cha. Ði xem hát bội, khách được tắm mình trong những vở tuồng truyền thống như vở tuồng hát lễ là tuồng Cổ thành, kế tiếp xem Sơn Hậu thành, lớp Giang sơn thứ ba, lớp trừ gian diệt nịnh và tôn vương. Một cảnh “trong chay ngày bội” như tiếng đồn.
Lễ và hội Ðổ giàn diễn ra, một đàn tràng được thiết lập trước cổng tam quan chùa với một giàn giáo ở giữa. Giàn giáo làm bằng bốn cột tre vững chắc, cao năm – sáu thước, trước treo một cờ phướn đề bốn chữ: Phúc – Ðức – Thần – Tài, trên đặt một cỗ cúng gồm hương hoa trà quả, gạo muối, vàng mã và một con heo quay nguyên con chừng 20 ki-lô-gam. Ðứng bên cỗ cúng có ông chủ tế, mấy phụ tế cùng người bảo vệ. Ông chủ tế khấn cúng, cầu cho “mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an” xong thì cho lệnh đánh ba hồi chiêng trống để báo rằng, đã đến lúc bắt đầu cuộc tranh tài. Chính ông chủ tế đích thân bưng con heo quay và cỗ lễ vật cúng tung lên cao cho rơi xuống. Cử chỉ đó được gọi là xô cỗ (còn gọi là xô giàn, đổ giàn). Tức thì, võ sĩ đâu từ đám đông, không biết bao nhiêu người xô dạt rừng người xem, phi thân lên cao, cùng tranh cướp con heo quay. Ðám đông ngả nghiêng, như sôi lên, người già, phụ nữ, trẻ em đã sớm dãn ra chỗ trống, đứng xem từ xa. Võ sĩ cướp được heo quay rồi vác heo trên vai cố chạy ra ngoài, liền bị các đối thủ vây chặt, hòng cướp lại. Anh ta phải trổ tài, phải khôn ngoan,  phải “tả xung hữu đột” để vừa hạ đối thủ vừa tìm đường chạy thoát, mang cho được “chiến lợi phẩm” về điểm an toàn đã định trước. Trong cuộc “hỗn chiến”, anh cướp được heo luôn có sự hỗ trợ của người cùng phe, họ đã bố trí và phân công từ trước. Ðặc biệt là những võ sĩ giấu mặt đâu đó để “chỉ đạo từ xa” bằng những dấu hiệu cổ vũ. Tại nơi điểm toàn, mọi người xúm lại hỏi xem người thắng cuộc là ai, anh ta thuộc lò luyện võ, làng võ nào để đám đông hoan nghênh và ca ngợi. Những người thắng cuộc hết sức vui mừng, nhưng cũng hành xử khôn khéo, thể hiện tinh thần thượng võ, vốn là điều cao cả của giới võ nghệ vùng này. Rồi con heo quay được đem ra xẻ làm nhiều phần, khao chung cho những người đã có mặt trong cuộc tranh tài cao thấp. Thường thì các võ sĩ, lò võ, làng võ thuộc An Thái hay Bình Khê – nay là huyện Tây Sơn, hay giành được chiến thắng. Nên, trong dân gian mới có câu ca: Tiếng đồn An Thái, Bình Khê – Nhiều tay võ nghệ có nghề tranh heo. Và vì thế mọi người tin rằng, bên thắng sẽ được “hên” cả năm, vì nhờ được “lộc thần”. Còn bên thua thì rèn ý chí chuẩn bị cho mùa tranh tài năm sau.
Lễ hội chùa Bà – An Thái không khác lễ hội chùa Bà nhiều nơi trong tỉnh Bình Ðịnh, như các lễ hội chùa Bà thôn Liêm Lợi (xã Nhơn Phong – An Nhơn) chùa Bà đường Bạch Ðằng (phường Trần Hưng Ðạo – TP Quy Nhơn)… Nhưng tính hấp dẫn ở lễ hội chùa Bà – An Thái vẫn hơn. Vì lễ hội này có Ðổ giàn, tranh heo, lại được tổ chức ở một miền quê thượng võ của tỉnh Bình Ðịnh đã được tổng kết trong tục ngữ và ca dao: Roi Thuận Truyền, quyền An Thái  – Ai về Bình Ðịnh mà coi – Con gái Bình Ðịnh múa roi, đi quyền. Roi là môn võ Bình Ðịnh, còn quyền là môn võ Tàu; ở An Thái hai môn võ này được cùng tập luyện và cùng được coi là món võ hiểm, có món tuyệt chiêu riêng. Các võ sĩ đến dự hội Ðổ giàn – An Thái mà chúng tôi được gặp hồi ấy, có cả những đoàn khách không ngại đường xa từ Khánh Hòa, Phú Yên ra; từ Ðác Lắc, Gia Lai xuống… Họ đến An Thái với nhiều lý do, để xem, để cổ võ và có không ít người còn kết hợp với việc thăm viếng nhau cho “phỉ tình sư đệ, tình đồng môn” bấy lâu xa cách. Bây giờ nhìn lại lễ hội chùa Bà – An Thái, mới thấy hết ý nghĩa của lễ hội hấp dẫn này. Ðó là lễ hội văn hóa truyền thống, kết quả của sự giao lưu văn hóa của cộng đồng người cùng sinh sống trên một mảnh đất, lại nêu cao tinh thần thượng võ, phát huy truyền thống võ nghệ của miền An Thái, An Vinh… Với sự kiện thầy giáo Hiến đến mở trường dạy học, với việc ba anh em nhà Tây Sơn theo học, rèn luyện tài “văn võ song toàn”, thì môn võ An Thái, Bình Khê nói riêng, võ Bình Ðịnh nói chung, tất có đóng góp lớn cho chiến công lẫy lừng của phong trào Tây Sơn. Từ năm 2000, lễ hội Ðổ giàn – An Thái được khôi phục trở lại, sau mấy chục năm không tổ chức, vì chiến tranh và nhiều lý do khác. Ðến nay, lễ hội này đã được tổ chức ba lần, lần nào cũng đông đảo người đến dự. Những lần đi Lễ hội  sau này, tuy tuổi đã cao, nhưng cũng hòa được vào bầu không khí hân hoan, phấn khởi chung, cũng nhờ đó mà tận mắt thấy được bao điều đổi thay của một vùng đất.
Nhơn Phúc có tám thôn, thị tứ An Thái là trung tâm của xã. Ðường từ trung tâm huyện An Nhơn lên Nhơn Phúc là đường liên huyện lên Tây Sơn rồi nhập quốc lộ 19 đi Tây Nguyên. Con đường đã được trải bê-tông rộng rãi, luôn nhộn nhịp xe cộ. Bây giờ, đi dự hội Ðổ giàn ở An Thái không còn phải ngồi xe ngựa chạy lắc lư trên đường trải đá dăm mà ngồi xe buýt. Ðường giao thông trong xã Nhơn Phúc cũng đều được bê-tông hóa. Nhà cửa trong thị tứ An Thái khá khang trang: Công sở hay nhà dân cũng đều là nhà ngói có xen lẫn nhà tầng, đền chùa miếu mạo  được trùng tu, tôn tạo trang nghiêm. Ðồng ruộng Nhơn Phúc xanh tốt, lúa tốt ngút ngát đến chân trời. Nghe bà con nói, năm hai vụ mà no đủ chứ không chờ ba vụ như trước nữa. Bà con cũng cho hay, từ năm 2002, Nhơn Phúc đã là một trong hai xã của huyện An Nhơn, đi đầu thực hiện năm hai vụ lúa ổn định cho tới nay. Thị tứ An Thái khá mở mang về thương mại – dịch vụ, nhất là bán buôn các sản phẩm truyền thống của địa phương như bún Song thằn, rượu Bàu Ðá, làm các nghề cơ khí, sửa chữa điện máy, nghề trồng cây cảnh… Về võ nghệ bây giờ, An Thái vẫn còn có lò luyện võ mà nổi tiếng là trường võ của ông Lâm Ngọc Phú (hậu duệ của dòng võ họ Lâm nổi tiếng bên cạnh dòng họ Diệp với tên tuổi Tàu Sáu – Diệp Trường Phát). Trường võ mỗi năm cung cấp hàng chục em năng khiếu võ cho Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Ðịnh để thu nhận làm võ sinh của Trường võ cổ truyền Bình Ðịnh. Nhơn Phúc là xã đạt danh hiệu Xã văn hóa cấp tỉnh và cũng là một trong số ít xã của huyện An Nhơn tự lực xây dựng Nhà văn hóa xã mà không nhận sự tài trợ của cấp trên.
Nhơn Phúc – An Thái chuẩn bị đón nhận một sự kiện của mơ ước bao đời: Chừng giữa năm 2010 sẽ tổ chức khánh thành cầu mới, cầu bê-tông cốt thép bắc qua sông Côn, để nối hai làng quê như hai anh em sinh đôi An Thái và An Vinh, nối bờ nam sông Côn với các xã thuộc vùng Tây An Nhơn và Ðông Tây Sơn. Và một sự kiện nữa, An Thái sẽ được công nhận là đô thị loại năm. Nhà nước và chính quyền địa phương đã và đang rất cố gắng để xây dựng những tiền đề vật chất – tinh thần, tạo điều kiện, tạo đà cho vùng đất nhỏ An Thái tiếp tục phát triển. Ðất nước đổi mới, hội Ðổ giàn vẫn còn đó, An Thái đã có sức lực mới để cùng với các địa phương khác phát huy mạnh mẽ truyền thống văn hóa “thượng võ, trọng văn” để góp phần cùng nhân dân Bình Ðịnh đi lên và mạnh giàu cùng đất nước.
Huỳnh Kim Bửu


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: