Những thành tựu nổi bật của thành phố Quy Nhơn

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm trong năm năm qua là:13,18%; GDP bình quân đầu người năm 2009 đạt 26,9 triệu đồng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: CN&XD 50,16% – DV 44,02% – nông, lâm, thủy sản 5,82%.

Biển Quy Nhơn.

Biển Quy Nhơn.

Thành phố Quy Nhơn, Tỉnh lỵ của tỉnh Bình Định nằm ở phía đông nam của tỉnh, đông giáp biển Ðông; tây giáp huyện Vân Canh; bắc giáp các huyện: Tuy Phước, Phù Cát; nam giáp thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, với diện tích 284,5 km2, dân số hơn 30 vạn người; thành phố có 21 đơn vị hành chính, gồm: 16 phường và 5 xã; là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh Bình Ðịnh.

Quy Nhơn là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, với lịch sử hình thành và phát triển hơn 400 năm, được gắn liền với nền văn hóa Chăm-pa ở thế kỷ 11, triều đại Tây Sơn và cảng Thị Nại thế kỷ 18.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, quân và dân Quy Nhơn đã chiến đấu anh dũng quật cường, làm nên những chiến công oanh liệt ngay trên quê hương mình và giải phóng Quy Nhơn vào ngày 31-3-1975, góp phần cùng cả nước giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc.

Sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, Ðảng bộ và nhân dân Quy Nhơn ra sức phấn đấu hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, từng bước đưa Quy Nhơn trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh. Ngày 18-6-1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quyết định mở rộng và nâng cấp thị xã Quy Nhơn lên thành phố thuộc tỉnh. 12 năm sau, ngày 4-7-1998, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 558/QÐ-TTg công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 2.


Cảng Quy Nhơn

Sau gần 12 năm được công nhận là đô thị loại 2, thành phố đã có bước phát triển mạnh mẽ; nét nổi bật trong quá trình phát triển của thành phố Quy Nhơn trong những năm gần đây là tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh, không gian đô thị không ngừng được mở rộng; bộ mặt thành phố có nhiều khởi sắc. Hoạt động văn hóa – xã hội có tiến bộ, đời sống nhân dân thành phố được nâng lên và cơ bản ổn định; quốc phòng được củng cố; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Hệ thống chính trị được kiện toàn; hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền có tiến bộ. Trên cơ sở đó, ngày 25-1-2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 159/QÐ-TTg công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Bình Ðịnh.

Những năm qua, kinh tế thành phố liên tục tăng trưởng và phát triển, tổng giá trị sản phẩm địa phương (GDP) theo giá thực tế năm 2009 đạt 7.571,865 tỷ đồng, tăng 6.453 tỷ đồng so với năm 1998, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm trong 5 năm qua là 13,18%; GDP bình quân đầu người năm 2009 đạt 26,9 triệu đồng, tăng 22,516 triệu đồng so với năm 1998. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: công nghiệp và xây dựng 50,16% – dịch vụ 44,02% – nông, lâm, thủy sản 5,82%. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009 đạt 4.205,25 tỷ đồng, tăng 3.789,439 tỷ đồng so với năm 1998, tốc độ phát triển bình quân hằng năm trong năm năm qua là 14,29%.


Thành Phố Quy Nhơn

Hiện nay thành phố có 2.183 cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng 587 cơ sở với năm 1998. Các sản phẩm chủ yếu như: gỗ tinh chế, giày da, thuốc chữa bệnh, đá granit, sản phẩm cơ khí, chế biến thủy sản…, Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt 293,8 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm trong 5 năm qua là 9,01%.

Công tác quy hoạch, quảng bá du lịch được chú trọng phát triển. Cơ sở hạ tầng du lịch được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới. Ðến nay trên địa bàn thành phố có 77 khách sạn và 103 nhà trọ, với 2.225 phòng trong đó có nhiều khách sạn 3, 4 sao. Tổng thu ngân sách năm sau cao hơn năm trước, bảo đảm cân đối chi và dành phần đáng kể phục vụ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, xây dựng các công trình phúc lợi của thành phố. Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm trong năm năm qua là 18,6%.

Công tác đầu tư phát triển, quản lý, chỉnh trang, kiến thiết đô thị luôn được quan tâm chú trọng. Tốc độ đô thị hóa trong thời gian qua diễn ra nhanh chóng, hệ thống giao thông đô thị, giao thông nông thôn, các khu dân cư mới, khu – cụm công nghiệp và các công trình phúc lợi của thành phố không ngừng phát triển theo hướng hiện đại, không gian đô thị được mở rộng; hạ tầng kỹ thuật được nâng cấp và xây dựng mới khá khang trang… Ðến nay đã có hơn 90% tuyến đường nội thành được nâng cấp bê-tông nhựa, hơn 95% tuyến hẻm chính được bê-tông hóa, hầu hết các tuyến đường giao thông nông thôn chính được nâng cấp, mở rộng và đổ bê-tông mặt đường, các tuyến đường giao thông nông thôn liên khu vực, thôn, xóm cũng dần được bê-tông hóa. Hệ thống công viên cây xanh, vườn hoa và điện chiếu sáng đô thị của thành phố tiếp tục được cải tạo, nâng cấp và từng bước hoàn thiện; tỷ lệ đất cây xanh toàn đô thị đạt 15,02 m2 cây xanh/người; xây dựng hệ thống chiếu sáng đô thị đạt tiêu chí loại 2, chiếu sáng 100% đường phố chính, 85% các hẻm…,vệ sinh môi trường được tăng cường; bộ mặt của thành phố ngày càng “Sáng – xanh – sạch – đẹp”.

Bằng nhiều nguồn vốn , thành phố đã đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng để xây dựng các công trình trọng điểm trên địa bàn như: đường Xuân Diệu, cầu đường Quy Nhơn – Nhơn Hội, đường liên xã Nhơn Hải – Nhơn Hội, đường trục khu kinh tế Nhơn Hội, nâng cấp cảng Quy Nhơn, đường Nguyễn Tất Thành nối dài… Ðặc biệt đường Quy Nhơn – Sông Cầu và cầu đường Quy Nhơn – Nhơn Hội được xây dựng hoàn thành đã phá thế độc đạo, giao thông đi lại thuận lợi, góp phần cho phát triển kinh tế – xã hội của thành phố.

Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có bước phát triển khá toàn diện về quy mô và chất lượng; hệ thống trường, lớp được đầu tư xây dựng ngày càng khang trang, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học được tăng cường. Ðã hình thành nhiều loại hình đào tạo… Ðến nay, toàn thành phố có 23 trường mầm non, tiểu học, THCS đạt chuẩn quốc gia; 21/21 xã, phường đạt phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở; thành phố Quy Nhơn được công nhận đạt phổ cập giáo dục tiểu học, tiểu học đúng độ tuổi, THCS nhiều năm nay. Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề được hình thành và phát triển. Hiện nay trên địa bàn thành phố có hai trường Ðại học là Ðại học Quy Nhơn và Ðại học Quang Trung. Trường đại học Quy Nhơn có chức năng đào tạo đa ngành, quy mô hơn 15.800 sinh viên, trong đó có 14.300 sinh viên dài hạn, mỗi năm có hơn 2.000 sinh viên tốt nghiệp ra trường. Trường đại học Quang Trung có chức năng đào tạo đa ngành, quy mô hơn 7.000 sinh viên, mỗi năm có hơn 1.500 sinh viên tốt nghiệp ra trường. Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh có 3.800 sinh viên, có 30% sinh viên hệ dài hạn, mỗi năm có hơn 650 sinh viên tốt nghiệp ra trường. Hệ Cao đẳng có ba trường (gồm: Trường Cao đẳng Bình Ðịnh, Cao đẳng nghề và Cao đẳng Y tế), với quy mô 3.123 sinh viên, mỗi năm có hơn 3.000 sinh viên tốt nghiệp. Ngoài ra có còn có ba trường trung học chuyên nghiệp và hai trường công nhân kỹ thuật với quy mô hơn 6.000 học sinh. Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo, đáp ứng tốt nhu cầu học tập và phát triển nguồn lực của địa phương.

Các hoạt động văn hóa – thông tin – thể thao luôn được quan tâm xây dựng các thiết chế văn hóa, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị tạo sự chuyển biến mạnh mẽ; các phong trào văn hóa – văn nghệ, TDTT, lễ hội luôn diễn ra sôi nổi, thu hút đông đảo quần chúng và thanh thiếu niên tham gia, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và rèn luyện sức khỏe trong nhân dân. Ðặc biệt Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai thực hiện đạt kết quả: đến nay đã có 80 khu phố, thôn, 80 cơ quan, đơn vị, trường học văn hóa, gia đình văn hóa hằng năm đều đạt từ 75 đến 92%.

Toàn thành phố có bảy bệnh viện với tổng số giường bệnh là 2.191 giường (trong đó: bệnh viện tuyến thành phố là 290 giường; bệnh viện tuyến khu vực, ngành, tỉnh và ngoài công lập là 1.901 giường). Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân từng bước mở rộng và nâng cao chất lượng. Các chương trình mục tiêu y tế Quốc gia, công tác DS – KHHGÐ và phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm… được thực hiện có hiệu quả; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác khám, chữa bệnh được quan tâm đầu tư phục vụ tốt nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của cán bộ và nhân dân. Các chính sách đối với người có công với nước và các chính sách xã hội được thực hiện tốt. Công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị được triển khai đồng bộ, tích cực, bước đầu kiềm chế và làm giảm tai nạn giao thông; ý thức chấp hành pháp luật của người dân khi tham gia giao thông có tiến bộ hơn; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững…

Với quá trình phát triển đi lên đó, tại Quyết định số: 445/QÐ-TTg, ngày 7-4-2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch điều chỉnh tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, đã xác định Quy Nhơn nằm trong nhóm đô thị lớn, cực lớn và là một trong 12 đô thị trung tâm cấp vùng của cả nước; là một trong ba trung tâm thương mại và du lịch của vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có vị trí quan trọng trong giao lưu với khu vực và quốc tế, điểm chốt cuối cùng của hành lang kinh tế Ðông – Tây hướng ra biển, cửa ngõ quan trọng của vùng duyên hải miền trung và Tây Nguyên.

Việc Quy Nhơn được công nhận là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh đã đem lại niềm vui và khí thế mới, đây cũng là vinh dự, là niềm tự hào nhưng cũng đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố phải luôn cố gắng, nỗ lực phấn đấu để xây dựng thành phố Quy Nhơn ngày càng phát triển đúng với vị trí của nó và xứng tầm với đô thị loại 1. Ðây cũng là dịp để Quy Nhơn nhìn lại mình, nhận rõ những mặt được, chưa được để từ đó xác định rõ hướng phấn đấu, tạo thêm thế và lực để thành phố Quy Nhơn phát triển nhanh hơn và toàn diện hơn trong xu thế hội nhập, với mục tiêu xây dựng thành phố cảng hiện đại, phát triển theo hướng nâng cao tỷ trọng dịch vụ, giữ vai trò trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao dịch quốc tế , văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao… của Bình Ðịnh và khu vực. Tương xứng với vị trí và ý nghĩa chiến lược về điểm chốt cuối cùng của hành lang Ðông – Tây hướng ra biển, cửa ngõ quan trọng của vùng duyên hải nam miền trung và Tây Nguyên.

THÁI NGỌC BÍCH

Chủ tịch UBND thành phố Quy Nhơn

Nguồn: http://www.nhandan.org.vn/tinbai/?top=38⊂=131&article=171371

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s