Cát Tường: Làng nghề thành làng văn hóa – du lịch

Làng Cát Tường ở huyện Phù Cát đã trở thành làng duy nhất của tỉnh Bình Ðịnh được Ban Quản lý Làng văn hóa – du lịch Việt Nam chọn để tiến hành xây dựng mô hình Làng văn hóa – du lịch các dân tộc Việt Nam…

Bí ẩn Cát Tường

Quyết định của Ban Quản lý Làng văn hóa – du lịch Việt Nam thoạt đầu làm chưng hửng giới kinh doanh lữ hành ở Bình Ðịnh. Bởi lẽ lâu nay, du khách về Bình Ðịnh muốn có một tour du lịch đồng quê, giới làm lữ hành thường chọn làng Vinh Thạnh, huyện Tuy Phước hoặc làng Nhơn Hậu, huyện An Nhơn. Với làng Vinh Thạnh thì đó là quê hương vị hậu tổ tuồng Ðào Tấn có đình làng thờ thành Hoàng, có cổng làng cổ kính, có phong cảnh hữu tình với dòng sông uốn lượn ôm lấy cánh đồng xanh, có chợ xép đầu làng với cô hàng xén áo bà ba và đặc biệt là truyền thống yêu hát bội từ máu thịt của người dân… Còn với Nhơn Hậu sức hấp dẫn lại thuộc về nét văn hóa trầm tích bởi đây là nơi có di tích thành Ðồ Bàn, tháp Cánh Tiên, chùa Nhạn Sơn, chùa Thập Tháp, giếng Hời… cùng nghề làm gốm nổi tiếng lại ở ngay bên cạnh thị trấn bảy làng nghề – Ðập Ðá…

Chúng tôi đi tìm bí ẩn của Cát Tường và nhận ra sự hợp lý trong lựa chọn của Ban Quản lý Làng văn hóa – du lịch Việt Nam.

Quy hoạch làng Cát Tường mang nét đặc trưng của một làng quê Bình Ðịnh với đầy đủ núi, sông, đồng, bãi, tre pheo. Con đường chính như cột sống xuyên dọc giữa làng; còn nhà dân rải theo các đường ngang, hầu hết đều có vườn cây cảnh. Xã có chín thôn, 3.400 hộ dân với khoảng 18.000 khẩu. Ðông dân là thế, song diện tích sản xuất cây lúa chỉ chưa tới 1.000 ha cộng thêm một ít diện tích mì, đậu phộng, bắp, mè. Chính vì thế mà từ ngàn xưa dân làng đã không chỉ sống bám vào đất, mỗi vùng cư dân của làng đã tự chọn lấy cho mình một nghề thủ công để kiếm sống lúc nông nhàn và tất cả đều trở nên nổi tiếng. Ðó là nghề làm cốm bắp, cốm nếp nổi tiếng một thời với thành ngữ “bầu cốm Cát Tường”; nghề đan đát với “chõng tre, thúng mủng Cát Tường”; nghề làm nhang và nghề chằm nón, đặc biệt là “nón ngựa Cát Tường”! Cát Tường còn có thêm một đặc trưng Bình Ðịnh khác: Ðây cũng chính là cái nôi tuồng của Bình Ðịnh. Ngay từ đầu những năm hai mươi của thế kỷ trước, gánh hát lớn bậc nhất ở Phù Cát của ông bầu Ðắc đã quy tụ nhiều nghệ sĩ danh tiếng ở Cát Tường như bầu Thủ, kép Tá, kép Bá Lạc Ðài, Cửu Phấn, Nhưng Chiện, Nhưng Hoạch, Ðào Nha, Ðào Chinh… Ðó cũng đồng thời là những nghệ sĩ đi vào lịch sử của hát bội Bình Ðịnh. Giờ đây làng tuồng Suối Tre (Cát Tường) vẫn tiếp tục sản sinh các diễn viên tuồng không chuyên xuất sắc từng đoạt nhiều huy chương trong các Liên hoan tuồng toàn quốc như: Công Lễ, Thanh Phúc, Thanh Cường, Thu Hường, Lương Thị Sen…

Trải bao thăng trầm của lịch sử, những đặc sản nổi tiếng của Cát Tường này từng lúc này lúc khác gặp vận khó khăn, đẩy người dân Cát Tường vào cuộc mưu sinh đầy gian nan. Cát Tường từng là một trong những xã “xuất khẩu” lao động vào các tỉnh phía nam đông hàng “tốp” của tỉnh mà đông nhất vẫn là vào thành phố Hồ Chí Minh buôn bán trái cây! Ở đây, từng có thời điểm gần nửa số phụ nữ trong độ tuổi lao động phải ly hương kiểm sống. Chả thế mà thời ấy ở Sài Gòn muốn gặp người Cát Tường thì cứ đến các chợ đầu mối trái cây! Cuộc sống ly hương cũng giúp nhiều gia đình qua cơn bĩ cực song cũng không ít gia đình tan nát vì chuyện “đi buôn trái về thêm bầu”, “đi buôn nón về thêm bầu”…

Sức sống mới

Từ ba năm nay, Cát Tường đã được công nhận có ba làng nghề: bánh tráng, nhang, nón ngựa. Và có lẽ đây cũng chính là cơ sở quan trọng để Ban Quản lý Làng văn hóa – du lịch Việt Nam chọn xây dựng mô hình Làng văn hóa – du lịch các dân tộc Việt Nam trong tổng số 13 làng được chọn trong cả nước. Về Cát Tường bây giờ đã nghe cả chục, cả trăm người trở thành thành viên của Hiệp hội làng nghề của tỉnh. Người dân Cát Tường đã sống được bằng những nghề truyền thống ngay trên mảnh đất của mình mà không còn phải đi “tha phương cầu thực”.

Chúng tôi đến thôn Phú Gia, nơi tập trung 220 hộ làm nón và 180 hộ làm bánh tráng và cảm nhận sự xôn xao của hoạt động làng nghề trong mọi gia đình. Chuyện chuẩn bị hàng họ tham dự hội chợ, giới thiệu sản phẩm… trở thành thường xuyên ở làng.

Tại gia đình của nghệ nhân Ðỗ Văn Lang, dẫu đã quá trưa, những người trong gia đình ông vẫn cần mẫn, người bủa nón, chằm nón, người thêu lên sườn mê những họa tiết đủ mầu sắc! Gia đình ông Ðỗ Văn Lang từng bốn đời làm nón ngựa, và cả làng Phú Gia chỉ còn một mình ông là thêu được những họa tiết đẹp và phức tạp kiểu long – lân – quy – phụng, song long, song hổ, ngũ châu… lên sườn mê chiếc nón ngựa. Có lẽ thế mà ông được tôn vinh là nghệ nhân. Ông Lang kể: Không ai biết chiếc nón ngựa Phú Gia ra đời từ bao giờ, từ đời ông bà đã biết làm và cứ thế lưu truyền từ đời này sang đời khác. Xét trên bình diện lịch sử, từ thời Quang Trung, chiếc nón ngựa chụp bạc với những họa tiết độc đáo đã được các viên quan tri phủ, tri huyện dùng đội trong các chuyến kinh lý. Một số cụ già ở Cát Tường vẫn còn lưu giữ những cái chụp bằng bạc cổ như một vật lưu niệm cho đời sau.

Chiếc nón ngựa Phú Gia giờ không phải chỉ dùng đội đầu che mưa che nắng mà nó đã trở thành hàng thủ công mỹ nghệ độc đáo dẫu vẫn giữ gần như nguyên vẹn mẫu mã, cốt cách. Chỉ có nguyên liệu có thay đổi chút ít khi chỉ thơm tàu được thay thế bằng tơ sợi ni-lon và họa tiết trên mê nón thì biến thiên theo yêu cầu của người đặt. Bởi thế mà giờ đây bên cạnh những họa tiết cũ như long – lân – quy – phụng, song hổ, song long đã có thêm các họa tiết mới giàu tính hiện đại…

Có tìm hiểu quy trình sản xuất một chiếc nón ngựa mới thấy nó công phu như thế nào và vì sao nó trở thành “hàng độc”. Ðể có chiếc nón ngựa phải trải qua gần chục công đoạn: từ chuẩn bị nguyên vật liệu, đan mê sườn, thắt sườn mê, thêu họa tiết, tỉa dọn, kết vành, kết sòi, bủa nón, chằm nón… Ðã có không ít lần người nước ngoài và cả người ở các thành phố lớn trong nước đến Cát Tường tìm hiểu cách làm chiếc nón ngựa hầu lập xưởng sản xuất hàng hoạt nhưng rồi họ đành bó tay khi biết được ngay cả nguyên liệu làm nên chiếc nón ngựa cũng không dễ kiếm. Bởi họ không dễ tìm ra cây dang (lấy từ rừng nguyên sinh), rễ cây dứa biển (chỉ có ở vùng núi sát biển), lá kè (chỉ có ở rừng nhiệt đới)…

Do làm chiếc nón ngựa phải trải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn lại đòi hỏi những kỹ thuật khác nhau nên từ lâu, người dân Cát Tường đã chuyên môn hóa từng công đoạn cho chiếc nón. Mỗi ngày người dân Cát Tường làm ra cả ngàn chiếc nón ngựa rải đều vào các cửa hàng du lịch trong nam ngoài bắc.

Cát Tường, một miền quê yên ả đang vươn dậy với sức sống mới!

QUANG KHANH

Nguồn: http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?article=160212⊂=134&top=43