Mổ xẻ PCI 2008 của Bình Định

Trong 3 lần công bố chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) từ 2005 đến 2007, Bình Định có điểm số và thứ hạng khá cao, trong đó 2 năm 2006 và 2007 thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Nhưng sang năm thứ 4 (2008) Bình Định đã bị tụt hạng xuống thứ 11. Bài viết này không có tham vọng phân tích mọi khía cạnh của PCI năm nay mà chỉ mổ xẻ những vấn đề chính yếu nhằm góp phần tìm giải pháp cải thiện chất lượng môi trường đầu tư – kinh doanh của tỉnh nhà.

Giảm điểm, tụt hạng

Trong 2 ngày 11 và 12/12/2008, tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Nâng cao Năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) đã công bố kết quả xếp hạng PCI năm 2008, theo đó Bình Định tụt xuống thứ 11 trong bảng xếp hạng PCI và chỉ được xếp loại “tốt”, không còn trong nhóm “rất tốt” nữa. Năm 2007, nhóm rất tốt (đạt 69/100 điểm trở lên) gồm 4 tỉnh, thành phố (gọi chung là tỉnh) là Bình Dương, Đà Nẵng, Vĩnh Long và Bình Định. Năm nay nhóm này chỉ có 3 tỉnh là Đà Nẵng và Bình Dương và Vĩnh Phúc. Vĩnh Long và Bình Định rơi xuống nhóm tốt gồm 10 tỉnh, trong đó Bình Định xếp thứ 8, tức là gần cuối của nhóm tốt (nhóm đạt từ 60 điểm đến dưới 69 điểm). Không kể Đà Nẵng, Bình Định xếp thứ 2 sau Thừa Thiên Huế trong khu vực duyên hải Miền Trung (gồm 11 tỉnh theo phân nhóm của VNCI) với khoảng cách điểm số gần như không có cách biệt.

Đó là về thứ hạng, còn về điểm số thì năm nay Bình Định chỉ đạt 60,67 điểm, thấp hơn rất nhiều so với điểm số của năm 2007 là 69,46. Bình Định cùng với Bắc Kạn và Thái Nguyên là 3 tỉnh thụt lùi nhất về điểm số PCI.

Đánh giá về môi trường kinh doanh của cả nước thông qua chỉ số PCI, Báo cáo của VCCI và VNCI cho rằng chỉ số chung năm nay đã sụt giảm, nghĩa là chất lượng điều hành nền kinh tế không được cải thiện. Điểm số PCI 2008 ở tất cả các nhóm xếp hạng nhìn chung thấp hơn so với năm trước. Tỉnh trung vị trong PCI 2008 có điểm số thấp hơn năm ngoái 2,4 điểm, giảm từ 55,6 điểm của năm 2007 xuống còn 53,2 điểm. Ngay cả Đà Nẵng tuy vươn lên dẫn đầu bảng xếp hạng PCI nhưng điểm số cũng giảm, cho thấy chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền thành phố đã không được cải thiện trong năm qua, còn Bình Dương thì dù vẫn đứng trong nhóm rất tốt nhưng chỉ số đã giảm so với năm trước đến 5,44 điểm, chứng tỏ môi trường kinh doanh không phải lúc nào cũng tích cực. Trong bối cảnh chung như vậy thì việc Bình Định sụt giảm có thể xảy ra, nhưng giảm tới gần 9 điểm là điều không khỏi băn khoăn. Nếu như năm 2006 khi Bình Định nhảy vọt từ thứ 12 lên thứ 3 là một bất ngờ thú vị thì việc tụt hạng năm nay cũng là một bất ngờ nhưng theo chiều ngược lại.

Đi tìm nguyên nhân

Tình hình chung của khá nhiều tỉnh là chưa quan tâm đúng mức đến phát triển kinh tế tư nhân và đào tạo lao động để có thể đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, trong khi đó, đây lại là 2 trong 4 chỉ số có trọng số cao nhất (15%) nên tác động của chúng đến chỉ số chung khá lớn. Bình Định không phải là ngoại lệ khi cả 2 chỉ số chính sách phát triển kinh tế tư nhân và đào tạo lao động đều sụt giảm và mức sụt giảm đều khá lớn. Điểm chỉ số chính sách phát triển kinh tế tư nhân giảm từ 7,92 năm ngoái xuống còn 4,53 và điểm chỉ số đào tạo lao động giảm từ 6,24 xuống còn 5,14. Ngoài ra, điểm chỉ số thiết chế pháp lý cũng giảm từ 4,47 xuống còn 3,39 và tiếp tục ở dưới khá xa điểm trung bình. Nguyên nhân đầu tiên của sự sụt giảm này là sự không hài lòng của doanh nghiệp đối với những vấn đề thiết thân của họ. Rõ ràng là so với đòi hỏi ngày càng cao của doanh nghiệp thì việc đáp ứng của chính quyền ngày càng không dễ.

Hãy bắt đầu việc mổ xẻ PCI bằng việc phân tích chỉ số chính sách phát triển kinh tế tư nhân, chỉ số có điểm sụt giảm nhiều nhất là 3,39 điểm (từ 7,92 xuống 4,53). Năm 2007 Bình Định xếp thứ 4 chỉ sau Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Bình Dương, còn năm nay Bình Định xuống thứ 13. Mặc dù đây là chỉ số cả nước giảm khá mạnh và tỉnh dẫn đầu cũng chỉ đạt 6,35 điểm, song điểm số và thứ hạng của Bình Định cần phải suy nghĩ. Trong bảng câu hỏi gửi cho doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu đã xin ý kiến đánh giá về chất lượng các dịch vụ công của tỉnh như: cung cấp thông tin thị trường; hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, đầu tư; xúc tiến xuất khẩu và hội chợ thương mại; công nghệ và các dịch vụ liên quan đến công nghệ; phát triển các khu, cụm công nghiệp… Các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ, cho rằng các dịch vụ công này chưa thoả mãn đòi hỏi của họ. Đặc biệt, tiến độ chậm trễ trong giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp cũng khiến các doanh nghiệp có nhu cầu về đất phải chờ đợi khá lâu nên không khỏi thấy phiền lòng.

Chỉ số thứ hai cần phân tích là về đào tạo lao động. Thời gian gần đây, vấn đề lao động có kỹ năng ngày càng được các doanh nghiệp quan tâm vì nó quyết định hiệu quả và tính bền vững của sản xuất, trong khi đó nhà nước chưa đáp ứng tốt nhu cầu này. Chính độ vênh giữa nhu cầu của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng của nhà nước đã dẫn đến sự không hài lòng của doanh nghiệp nên họ cho điểm thấp đối với chỉ số này. Hiện nay, cơ sở đào tạo nghề tại Bình Định không nhiều, phía bắc tỉnh khá đông dân nhưng chưa có trường cao đẳng, trung cấp hay trường nghề nào (hiện nay Bình Định đang xây dựng trường dạy nghề ở Hoài Nhơn nhưng tiến độ còn chậm). Trong một nghiên cứu mới đây của Dự án nghiên cứu chiến lược phát triển liên kết thành phố Đà Nẵng và vùng phụ cận (DaCRISS) do Cơ quan Hợp tác phát triển Nhật Bản (JICA) tài trợ), kết quả điều tra phường xã ở Bình Định một tỷ lệ rất cao số người được hỏi cho rằng Bình Định có hạn chế lớn về lao động có kỹ năng (hạn chế nhất Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung). Vẫn biết mọi cuộc thăm dò đều có sai số, nhưng nếu là những đánh giá nặng nề thì không thể xem nhẹ. Có một yếu tố “góp phần” làm cho điểm chỉ số đào tạo lao động thấp là hỗ trợ kinh phí đào tạo của tỉnh chưa đến được với doanh nghiệp. Từ nhiều năm qua, UBND tỉnh đã ban hành một số chính sách khuyến khích đầu tư trong đó có hỗ trợ đào tạo nghề với mức tối thiểu 50% kinh phí đào tạo nghề phổ thông cho các doanh nghiệp để đào tạo công nhân kỹ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề. Song thực tế đến nay không nhiều doanh nghiệp được hưởng hỗ trợ này do thiếu hướng dẫn triển khai cụ thể. Một số doanh nghiệp không e ngại nói rằng chính sách này rất hay nhưng khó thực thi. Những đánh giá, chấm điểm của doanh nghiệp đầy tính xây dựng và đáng quý bởi nó giúp các nhà lãnh đạo quan tâm hơn đến việc đầu tư các cơ sở đào tạo nghề nói riêng, đến công tác xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung.

Một chỉ số nữa mà mấy năm qua Bình Định luôn thấp điểm và năm nay lại giảm thêm, đó là thiết chế pháp lý. Đây là chỉ số đo lường lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối với hệ thống toà án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương. Theo bảng phân tích tổng hợp do VNCI công bố, Bình Định chỉ đạt 3,39 điểm, xếp thứ 54 ngay sau Khánh Hoà và trên 10 tỉnh, trong đó có Thanh Hoá, Hà Tây, Hà Nội, Phú Yên. Vì sao lại có kết quả như vậy? Hãy đi vào chi tiết các câu hỏi phụ của chỉ số này, đó là: Hệ thống pháp lý có tạo ra cơ chế để doanh nghiệp có thể khởi kiện hành vi tham nhũng của cán bộ công quyền hay không; doanh nghiệp có tin rằng hệ thống pháp lý sẽ bảo vệ hợp đồng và các quyền tài sản của họ hay không; doanh nghiệp có chủ yếu sử dụng thiết chế pháp lý để giải quyết tranh chấp hay không; số vụ tranh chấp xét xử tại Tòa án kinh tế cấp tỉnh (mà bên nguyên không phải là DNNN); tỷ lệ số vụ tranh chấp (mà bên nguyên không phải là DNNN) so với tổng số vụ tranh chấp xét xử tại Tòa án kinh tế cấp tỉnh. Các câu hỏi phụ trên khó có câu trả lời thật khách quan và thoả đáng vì doanh nghiệp ít có “kinh nghiệm thực tế” trong chuyện này. Việc doanh nghiệp đánh giá thấp về thiết chế pháp lý của tỉnh không loại trừ yếu tố tâm lý vùng miền. Người Miền Trung có vẻ e ngại khi quan hệ với các cơ quan pháp luật, thường tự xoay xở khi có tranh chấp, vướng mắc hoặc khi muốn tố cáo, khiếu nại. Nghi ngại, chưa hiểu nên chưa tin và dễ dẫn đến đánh giá thấp, đó có thể là một trong những lý do. Ngày nay, pháp luật của chúng ta ngày một minh bạch, xã hội ngày càng hành xử theo luật pháp cho nên các doanh nghiệp hoàn toàn có thể tin tưởng ở các cơ quan pháp luật trong giải quyết các vướng mắc, tranh chấp phát sinh trong quá trình đầu tư, kinh doanh tại tỉnh.

Có thể có câu hỏi đặt ra ở đây là liệu đánh giá của doanh nghiệp có hoàn toàn chính xác? Câu trả lời là đánh giá ấy khó chính xác 100% nhưng có thể tin cậy được vì năm nay trong tổng số 7.820 doanh nghiệp có phản hồi, ngoài các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần còn có các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá và doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, với tỷ lệ phản hồi là 30%, khá cao so với yêu cầu của một cuộc điều tra xã hội học. Mặt khác, bảng câu hỏi mà các nhà khảo sát đưa ra rất tỉ mỉ và khoa học cũng là yếu tố làm cho kết quả thu được là đáng tin. Riêng Bình Định đã có 159 doanh nghiệp trong tổng số 500 doanh nghiệp được hỏi có phản hồi, đạt tỷ lệ gần 32%, trên mức bình quân cả nước.

Còn một nguyên nhân nữa từ điều kiện khách quan nhưng không kém quan trọng, đó là trong khi ta chững lại thì các địa phương khác đều phấn đấu mạnh mẽ để tự cải thiện. PCI đã thực sự là một cuộc đua và không tỉnh nào chịu đứng yên cả.

Đâu là mặt tích cực? Bình Định đứng ở đâu so với khu vực?

Bình Định có một số điểm yếu nhưng không phải không có những mặt tốt. Trước hết là chỉ số Chi phí gia nhập thị trường. Với 9,03 điểm, Bình Định luôn nằm trong nhóm dẫn đầu của cả nước trong việc giúp các doanh nhân khởi nghiệp đơn giản, nhanh chóng và ít tốn kém nhất. Việc thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” trong đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và khắc dấu tại Sở Kế hoạch và Đầu tư thời gian qua (từ tháng 10/2007) là yếu tố giành được sự hài lòng cao nhất của các doanh nghiệp. Thứ hai là chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, nhiều tỉnh (trong đó có các tỉnh dẫn đầu về PCI) giảm điểm thì Bình Định lại tăng (từ 6,47 lên 7,21 điểm), chứng tỏ doanh nghiệp đã “cảm nhận” được sự cải thiện trong lĩnh vực đất đai của tỉnh. Bên cạnh đó, Bình Định còn có 2 chỉ số tăng điểm và duy trì điểm số khá cao so với năm ngoái là Chi phí không chính thức và Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước. Bằng việc cho tăng điểm các chỉ số này, doanh nghiệp thừa nhận rằng ít phải trả các khoản “bôi trơn” hơn và không còn “tị nạnh” về các ưu đãi riêng đối với doanh nghiệp nhà nước nữa. Điểm tích cực nữa là 2 chỉ số Tính minh bạch và tiếp cận thông tin và Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh vẫn duy trì ở mức trên 7 điểm, đều nằm trong nhóm 8 tỉnh đứng đầu cả nước và dẫn đầu khu vực duyên hải Miền Trung.

2 bảng tổng hợp kèm theo đây sẽ giúp hình dung mặt mạnh, mặt yếu của Bình Định về chỉ số PCI, với các thông tin chi tiết về điểm số và xếp hạng từng chỉ số qua từng năm, chỉ số năm 2008 của tỉnh so với các tỉnh trong nước và cùng khu vực.

PCI và lòng tin đối với môi trường đầu tư – kinh doanh

PCI đo lường chất lượng điều hành chứ không phải là mức độ phát triển nền kinh tế. Do đó, nếu PCI sụt giảm chắc chắn lòng tin vào môi trường đầu tư – kinh doanh nói chung cũng bị lung lay. Tại Hội thảo công bố PCI 2008 tổ chức cho khu vực phía nam ngày 12/12 ở Thành phố Hồ Chí Minh, bà Angela Dickey, Phó Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh đã nói rằng PCI ngày càng quan trọng không chỉ đối với các địa phương mà hiện nay các tổ chức và doanh nghiệp Hoa Kỳ cũng dựa vào PCI để ra quyết định tài trợ và đầu tư, công dân Hoa Kỳ cũng căn cứ vào đó khi quyết định điểm đến du lịch của mình. Một ngày trước đó tại Hà Nội, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak cho rằng PCI “không chỉ giúp địa phương kịp thời phân tích các điểm mạnh, điểm yếu để thúc đẩy cải cách mà còn là cơ sở tham chiếu rất tốt cho các cơ quan quốc tế khi đề ra ưu tiên cho các nguồn tiền tài trợ”. Có lẽ đây không chỉ là suy nghĩ của riêng người Mỹ mà là của các đối tác nước ngoài. Đó chính là lý do vì sao không tỉnh nào muốn bị tụt hạng hay giảm điểm, bởi PCI thấp đồng nghĩa với ít hấp dẫn trong thu hút đầu tư và du lịch. Đã có một sự thay đổi trong nhìn nhận mức độ quan trọng của PCI theo thời gian. Ban đầu, với phản hồi của các doanh nghiệp tư nhân, các nhà nghiên cứu và các cơ quan quốc tế chỉ nhẹ nhàng “góp ý” rằng PCI là công cụ giúp chính quyền chẩn đoán môi trường và chính sách để thu hút đầu tư của doanh nghiệp. Giờ đây, qua mở rộng đối tượng điều tra sang cả doanh nghiệp cố phần hoá và doanh nghiệp niêm yết, họ nói mạnh hơn, có tính “thông điệp” hơn, khi cho rằng PCI còn là căn cứ để xem xét tài trợ và du lịch. Hiện nay, chúng ta đang phát huy nội lực và thu hút ngoại lực nên rất cần phải lắng nghe ý kiến của bên ngoài để điều chỉnh, ứng xử cho phù hợp. Đối với một tỉnh thì bên ngoài có nghĩa là các doanh nghiệp, tổ chức trong nước và nước ngoài. Sẽ khó vận động, thu hút được nguồn lực trong nước và nước ngoài nếu PCI (hay môi trường đầu tư – kinh doanh) của tỉnh thấp vì một lẽ đơn giản: PCI thấp khó tạo được lòng tin.

Phải làm gì để cải thiện điểm số và thứ hạng PCI?

Phải làm gì để cải thiện PCI của tỉnh? Đây là câu hỏi không dễ trả lời. Như trên đã phân tích, muốn cải thiện trước hết phải nhìn nhận được hạn chế để từng bước khắc phục, điều này đỏi hỏi phải có sự chỉ đạo từ cấp cao nhất của tỉnh, sự đồng thuận của nhiều cấp nhiều ngành và nhiều địa phương. Một số tỉnh vừa qua đã nêu quyết tâm chính trị và biến quyết tâm thành hiện thực nên đã cải thiện khá tốt điểm số cũng như thứ hạng PCI của mình. Có thể nêu ra ở đây một số ví dụ: Tỉnh uỷ Hà Tây ra Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tổ chức đợt sinh hoạt kiểm điểm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh về môi trường đầu tư của tỉnh sau khi bị xếp dưới đáy bảng xếp hạng PCI năm 2005 và 2006; Tỉnh uỷ Khánh Hoà ra Chỉ thị về tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh khi PCI 2007 tụt 20 bậc (từ 20 xuống 40); UBND tỉnh Thừa Thiên Huế lập Kế hoạch triển khai các giải pháp, UBND tỉnh Bình Phước ban hành Chương trình hành động nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và 2 tỉnh này liên tục cải thiện thứ hạng PCI, trong đó Thừa Thiên Huế đã từ thứ 15 trong năm 2007 lên thứ 10 trong năm nay, xếp ngay trên Bình Định. Tại Đồng Nai, HĐND tỉnh đã chất vấn Sở Kế hoạch và Đầu tư về xếp hạng PCI 2007 khi Đồng Nại tụt 11 hạng xuống thứ 16. Có địa phương còn “rỉ tai” doanh nghiệp hãy nói tốt cho tỉnh nhà nhằm có được điểm số và thứ hạng cao. Nên chăng Bình Định cũng có một động thái tương tự?

Dù có động thái gì thì cũng không nên vận động các doanh nghiệp Bình Định tô hồng mà trái lại càng cần ở họ sự nói thẳng, nói thật nhằm giúp các nhà lãnh đạo bắt đúng mạch để chữa khỏi bệnh. Dưới một hình thức nào đó, Bình Định cũng cần phải có một quyết tâm chính trị nhằm nân cao PCI của tỉnh. Nếu có quyết tâm chính trị và biết rõ ưu, nhược của mình để ứng xử thích hợp thì PCI của Bình Định chắc chắn sẽ được cải thiện. Tất nhiên, việc duy trì PCI ở nhóm dẫn đầu trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay là rất khó. Mục tiêu thiết thực của Bình Định là làm sao cho điểm số được cải thiện và thứ hạng không bị thụt lùi vì xét cho cùng thì điểm số quan trọng hơn thứ hạng, điểm số mới phản ánh chất lượng thực sự, còn thứ hạng sẽ chẳng ý nghĩa gì nếu ta xếp cao hay đứng đầu toàn những anh yếu kém.

Chỉ số tổng hợp về môi trường đầu tư của Bình Định

PCI không đo đếm về cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin – truyền thông, tăng trưởng hay phát triển mà chỉ đo lường chất lượng điều hành nền kinh tế. Do không hiểu rõ nên có người thắc mắc vì sao Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có PCI thấp mà vẫn thu hút mạnh đầu tư. Để làm rõ tính hấp dẫn đầu tư của các địa phương kết hợp với PCI, năm nay nhóm nghiên cứu đã đưa thêm yếu tố cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin – truyền thông vào phân tích cùng với PCI. Do nhiều chỉ tiêu cấu thành nên chỉ số cơ sở hạ tầng nằm ngoài tầm kiểm soát của địa phương nên không thể đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của địa phương qua chỉ số này. Thực chất, chỉ số này chỉ đánh giá về chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng nói chung, đồng thời giúp các doanh nghiệp địa phương ra quyết định đầu tư và giúp các nhà lãnh đạo các cấp xác định các ưu tiên về chính sách phát triển. Còn chỉ số công nghệ thông tin – truyền thông được đưa vào phân tích bởi vì vai trò của nó ngày càng cao trong việc thúc đẩy giao dịch với các đối tác kinh doanh và tìm hiểu thông tin thị trường cũng như công nghệ. Tỉnh nào có tính sẵn sàng về công nghệ thông tin – truyền thông cao (bao gồm hạ tầng, nguồn nhân lực, phạm vi quy mô ứng dụng, chính sách phát triển…) thì chắc chắn sẽ có môi trường đầu tư – kinh doanh hấp dẫn.

Điều đáng phấn khởi là bảng xếp hạng chỉ số tổng hợp về môi trường đầu tư bao gồm cả cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin – truyền thông cho thấy thứ hạng của Bình Định khá cao, đứng thứ 10 sau Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Vĩnh Phúc, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế và Đồng Nai. Nếu xếp hạng về chỉ số cơ sở hạ tầng tiêu chuẩn thì Bình Định đứng thứ 3 cả nước, sau Bình Dương và Đồng Nai, còn xếp hạng chỉ số cơ sở hạ tầng bao gồm cả cảng biển và sân bay thì Bình Định đứng thứ 2, chỉ sau Đà Nẵng. Như vậy là “xét một cách toàn diện”, Bình Định đã được thừa nhận có môi trường đầu tư hấp dẫn chỉ sau 2 trung tâm ở 2 đầu đất nước và Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, trong đó chỉ số cơ sở hạ tầng xếp hàng đầu cả nước. Sự thừa nhận này hết sức có ý nghĩa đối với công tác quảng bá, xúc tiến đầu tư của tỉnh vì các nhà đầu tư luôn coi cơ sở hạ tầng là ưu tiên hàng đầu khi xem xét quyết định đầu tư. Song, cũng như PCI, chỉ số cơ sở hạ tầng của các tỉnh không phải là bất biến. Bình Định vốn được coi là năng động, đi trước một bước trong chuẩn bị hạ tầng, nhưng nếu dừng chân hay lỗi nhịp thì sẽ dễ dàng bị bắt kịp và vượt qua. Riêng chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông (tính sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông), Bình Định chỉ xếp thứ 18 (sau Huế, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Nghệ An, Thanh Hoá). Thứ hạng này khá khiêm tốn so với tiềm năng trí tuệ và quy mô nguồn nhân lực của tỉnh, do vậy cần sớm có chiến lược và cách làm sát hợp để khắc phục. Bình Định sẽ không thể phát triển nếu yếu kém về công nghệ thông tin và truyền thông.

Như vậy, cùng với PCI (vốn nhấn mạnh môi trường kinh doanh), chỉ số tổng hợp về môi trường đầu tư phản ánh khá trung thực bức tranh toàn cảnh của cả nước về tính hấp dẫn đầu tư bao gồm cả các yếu tố truyền thống như vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng (nói chung là phần cứng) và các yếu tố chính sách, tinh thần, thái độ (gọi chung là phần mềm), trong đó vị thế của Bình Định đã được thừa nhận. Vấn đề là làm sao quảng bá, phát huy hơn nữa vị thế đó của tỉnh, cải thiện hơn nữa cả “phần cứng” và “phầm mềm” để sớm đưa Bình Định đi lên mạnh mẽ.

Nguyễn Thành Hải

10 chỉ số thành phần của PCI

1. Chi phí gia nhập thị trường

Đo lường thời gian và mức độ khó, dễ mà doanh nghiệp trải qua để đăng ký kinh doanh, xin cấp đất và hoàn tất các giấy phép cần thiết để bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh.

2. Tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sử dụng đất

Đo lường 2 khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận đất đại có dễ dàng không, và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi có được mặt bàng kinh doanh hay không.

3. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin

Đo lường khả năng tiếp cận được các kế hoạch của tỉnh và văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách, quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp.

4. Chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước

Đo lường thời gian mà các doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra.

5. Chi phí không chính thức

Đo lường các khoản chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không.

6. Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước và Môi trường cạnh tranh

Đo lường ưu đãị của chính quyền tỉnh dành cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và các DNNN đã cổ phần hoặc các doanh nghiệp đều tàu ở địa phương thể hiện dưới dạng các ưu đãi cụ thể, phân biệt về chính sách và tiếp cận nguồn vốn.

7. Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh

Đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra những sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng ở những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp.

8. Chính sách phát triển kinh tế tư nhân

Đo lường các dịch vụ của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp.

9. Đào tạo lao động

Đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm.

10. Thiết chế pháp lý

Đo lường lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối với hệ thống toà án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương.

Nguồn: Báo cáo tóm tắt chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2008, VCCI & VNCI

Một tỉnh được đánh giá là thực hiện tốt cả 10 chỉ số thành phần trong chỉ số PCI cần có:

1. Chi phí gia nhập thị trường thấp

2. Doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận đất đai và và có mặt bằng kinh doanh ổn định

3. Môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận công bằng các thông tin cần cho kinh doanh và các văn bản pháp luận cần thiết

4. Chi phí không chính thức ở mức tối thiểu

5. Thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính và thanh tra, kiểm tra hạn chế nhất

6. Không thiên vị đối với bất kỳ thành phần kinh tế nào, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước

7. Lãnh đạo tỉnh năng động và tiên phong

8. Có các sáng kiến để phát triển khu vực kinh tế tư nhân, khắc phục các thất bại của thị trường

9. Có chính sách đào tạo lao động tốt

10. Hệ thống pháp luật và tư pháp để giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả
Nguồn: Báo cáo tóm tắt chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2008, VCCI & VNCI
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s