Đăng bởi: lehobac | 08/06/2010

Những người lính nơi cửa biển Qui Nhơn

Những ngày này, tại các đơn vị BĐBP Bình Định đang tràn ngập không khí thi đua sôi nổi lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ BĐBP tỉnh lần thứ X. Từ vùng cửa biển Quy Nhơn đến Phù Mỹ, Phù Cát, Tam Quan, hay rẽ sóng ra với Cù Lao Xanh, ở đâu cũng bừng lên ánh mắt, nụ cười tràn đầy niềm tin, sức sống của những người lính quân hàm xanh…

Trước chuyến đi thực tế xuống Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Qui Nhơn, chúng tôi được Đại tá Trương Minh Cường- Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh Bình Định cho biết: “Kỳ đại hội này, Đảng bộ BĐBP tỉnh được chọn tổ chức đại hội điểm trong khối đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy. Để chuẩn bị thật chu đáo cho ngày hội lớn này, chúng tôi chọn Đồn BP cửa khẩu cảng Quy Nhơn tổ chức đại hội điểm nhằm rút kinh nghiệm trong toàn Đảng bộ. Đây là đơn vị 5 năm liền đạt vững mạnh toàn diện. Thành tích nổi bật của Đồn BP cửa khẩu cảng Quy Nhơn là làm tốt công tác vận động quần chúng, tăng cường bảo vệ an ninh địa bàn, tạo niềm tin đối với chính quyền và nhân dân trong khu vực cũng như các chủ phương tiện, du khách ra vào cảng Quy Nhơn”.

Quản lý địa bàn gồm 8 phường với 116 ngàn nhân khẩu, trong đó có cảng biển lớn ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, trong những năm qua cán bộ chiến sỹ Đồn BP cửa khẩu cảng Quy Nhơn đã vượt khó, triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ biên phòng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Song song với việc đẩy mạnh các phong trào thi đua xây dựng đơn vị, Đồn đặc biệt chú trọng đến công tác vận động quần chúng, tham gia xây dựng địa bàn, kết hợp tăng cường đấu tranh phòng chống các loại tội phạm. 5 năm qua, bám sát nhiệm vụ chính trị mà Nghị quyết đại hội đảng bộ đồn nhiệm kỳ (2005- 2010) đã đề ra, cán bộ, chiến sỹ trong đơn vị đã làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương củng cố cơ sở chính trị, giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trên địa bàn. Chất lượng, hiệu quả công tác vận động quần chúng không ngừng được đổi mới, nâng cao.

Bên cạnh hình thức phối hợp tuyên truyền tập trung, đồn còn duy trì đều đặn hệ thống loa phát thanh trên địa bàn 8 phường, phát nhiều bản tin giúp nhân dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, ý thức tự quản an ninh thôn xóm và tinh thần làm chủ vùng lãnh hải quốc gia trong quá trình hành nghề trên biển. Vai trò của Đồn BP cửa khẩu cảng Quy Nhơn còn được khẳng định rõ nét qua công tác tham mưu giúp chính quyền củng cố cơ sở chính trị, tập hợp sức mạnh đoàn kết toàn dân trong xây dựng đời sống mới và tham gia bảo vệ vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Từ năm 2005 đến nay, Đồn đã tham mưu cho các cấp ủy Đảng, củng cố 3 chi bộ, 4 chi đoàn, 24 chi hội nông dân, 36 chi hội cựu chiến binh, 146 tổ an ninh nhân dân, 45 tổ bảo vệ dân phố. Cùng với đó Đồn tập trung nhân rộng mô hình tổ tàu thuyền an toàn, bến bãi an toàn, vừa ổn định tình hình an ninh trật tự, giúp bà con yên tâm làm ăn, vừa phát huy sức mạnh thế trận Biên phòng toàn dân trong quản lý bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển đảo…

Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm cũng là một trong những nét nổi bật của Đồn BP cửa khẩu cảng Quy Nhơn trong thời gian qua. Đứng chân trên địa bàn trọng điểm tập trung các hoạt động thương mại du lịch của tỉnh Bình Định nói riêng, khu vực duyên hải Nam Trung Bộ nói chung, Đồn đặc biệt quan tâm đến công tác trinh sát nắm tình hình, phối hợp với các lực lượng điều tra quản lý chặt chẽ các loại đối tượng có những biểu hiện vi phạm pháp luật trên địa bàn và đẩy mạnh công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại. Nhờ đó, các vụ việc xảy ra đều được lực lượng của đồn phát hiện ngăn chặn kịp thời.

Chỉ riêng năm 2009, Đồn đã bắt giữ, xử lý hàng trăm vụ phạm pháp hình sự và vi phạm hành chính, trong đó có nhiều đối tượng tội phạm ma túy, phạm tội giết người, cướp, hiếp dâm, trộm cắp tài sản.v.v. Thượng tá Mai Văn Sâm- Đồn trưởng Đồn BP cửa khẩu cảng Quy Nhơn cho biết: “Bên cạnh việc bám nắm địa bàn, đối tượng trọng điểm, chúng tôi thường xuyên tổ chức lực lượng tuần tra kiểm soát tại các cửa biển để bảo vệ an toàn cho những con tàu ra vào cảng Quy Nhơn. Gần như ngày nào Đồn cũng giải quyết những vụ việc liên quan đến an ninh trật tự. Các hoạt động nhập cảnh trái phép, mua bán sử dụng ma túy, thuốc nổ trên biển, hoạt động trấn cướp tại khu vực đèo Quy Hòa v.v… đều được lực lượng trinh sát của Đồn phối hợp điều tra, phá án kịp thời…”.

Thao thức với biển, vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên của nhân dân, những thành tích xuất sắc trong công tác của những người lính Đồn BP cửa khẩu cảng Quy Nhơn đã tạo nên nét đẹp tình người, tình quân dân sâu nặng nơi vùng cửa biển Quy Nhơn. Có họ, vùng cửa biển Quy Nhơn yên bình hơn, bà con ngư dân sẽ càng vững tin hơn khi bám biển làm ăn tạo dựng cuộc sống.

Thái Kim Nga

Nguồn: http://www.bienphong.com.vn/

Đăng bởi: lehobac | 08/06/2010

Phục dựng ấn triện của vua Quang Trung

Sáng 5.6, ông Vũ Hoàng Hà, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, cho biết, tỉnh Bình Định sẽ phục dựng một loại ấn triện của vua Quang Trung và thu thập các hiện vật cổ của người anh hùng áo vải.

Một mẫu mô phỏng ấn thời Tây Sơn được nghệ nhân Bát Tràng làm bằng sứ.

Tại buổi tọa đàm khoa học về sắc phong, ấn triện triều Tây Sơn sáng 5.6, ông Vũ Hoàng Hà cho biết, những hiện vật, cứ liệu lịch sử về triều đại Tây Sơn mà tỉnh Bình Định thu nhận được vẫn hạn chế bởi sự thất thoát qua thời gian, nhất là sau sự trả thù tàn bạo của triều Nguyễn Gia Long. Do vậy, hướng đến kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, tỉnh chủ trương thu thập các hiện vật cổ và phục dựng các cổ vật để tưởng nhớ và tôn vinh triều đại của vị anh hùng áo vải.

Ấn triện của vua Quang Trung là một trong những hiện vật cổ mà tỉnh Bình Định muốn phục dựng. Theo ông Nguyễn Đình Chiến, Phó giám đốc Bảo tàng lịch sử VN, trên các loại sắc phong hiện còn lưu giữ có 4 loại ấn triện thời Tây Sơn. Trong đó, ấn “Quảng vận chi bảo” có kích thước 11,5×11,5cm đóng trên tờ chiếu chỉ của vua Quang Trung gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Loại ấn này thường đóng trên các công văn sai, truyền của nhà vua.

Ngoài ra, còn ấn “Sắc mệnh chi bảo” trên sắc phong cho người có công dưới thời Tây Sơn, hay ấn “Triều đường chi ấn” cho những văn bản hành chính quan trọng; ấn “Hòa nhu chi bảo” cho các sắc phong thần hoàng làng.

Một số chuyên gia đã gợi ý tỉnh Bình Định phục dựng ấn “Quảng vận chi bảo” bởi đặc trưng thời vua Quang Trung, thích hợp đúc bằng đồng hay vàng.

Trong dịp này, xã Bát Tràng (huyện Gia Lâm, Hà Nội) cũng đóng góp cho tỉnh Bình Định 2 tờ sắc phong thời Tây Sơn vẫn được lưu giữ. Người dân làng Bát Tràng hiện còn lưu giữ 16 sắc phong của các vua thời Tây Sơn ban cho Thành hoàng làng.

. Theo VnExpress (http://baobinhdinh.com.vn/)

Nghệ sĩ nhiếp ảnh (NSNA) Lê Hồng Linh đến nay đoạt được gần 400 giải thưởng nhiếp ảnh quốc tế và trong nước. Năm 2009, Bảng xếp hạng của Hội Nhiếp ảnh Hoa Kỳ (PSA) vinh danh ông hạng Nhất thế giới ở thể loại ảnh đen trắng, hạng Ba ảnh màu về đề tài du lịch. Nhân dịp NSNA Lê Hồng Linh đến TP Quy Nhơn giảng dạy về ảnh báo chí, PV Báo Bình Định đã có cuộc trò chuyện với ông… 

Dong lai
NSNA Lê Hồng Linh

 - Trước đây ông được đào tạo và là giảng viên đại học ngành kỹ thuật, nhưng giờ đây công chúng biết nhiều đến ông với tư cách là một nhiếp ảnh gia. Điều này có ảnh hưởng gì đến quan niệm sáng tác của ông không? 

Khi bấm máy tôi dựa vào cảm xúc, ghi nhận, sáng tạo từ sự rung cảm trước cái đẹp, không đặt nặng yếu tố kỹ thuật. Các yếu tố khoa học kỹ thuật chỉ để hoàn thiện tác phẩm ở mức độ cho phép. 10 năm gắn bó với công việc phóng viên ảnh ở Báo Tuổi Trẻ đã giúp tôi ý thức thêm được tác phẩm nhiếp ảnh phải gắn liền và mang hơi thở của cuộc sống.

- Tác phẩm của ông được nhận xét giàu chất hội họa…

Trước khi đến với nhiếp ảnh, tôi cũng hay thích sáng tác thơ, văn, vẽ tranh. Tâm hồn có sẵn chất lãng mạn, nên khi chụp ảnh thì tự nhiên thấy những cái đẹp, thơ mộng làm mình xúc cảm thì chụp. Nhưng mỗi khoảnh khắc bấm máy của tôi là kết tinh nhiều chuyện từ kiến thức, trải nghiệm, sự mẫn cảm nghệ thuật. Nhiều lúc ấp ủ một vấn đề gì vài năm trời mới dồn vào một cái bấm máy bằng sự rung động cao độ của tâm hồn…

- Ông có thể trả lời một vấn đề “tế nhị” khi có ý kiến cho rằng tác phẩm của ông hầu hết đạt giải cao ở các cuộc thi quốc tế, còn trong nước ít thành công?

Tôi nghĩ một tác phẩm ảnh nghệ thuật đoạt giải cao ở nhiều hội đồng nghệ thuật, nhiều quốc gia chấm thì khách quan, có giá trị đích thực và ý nghĩa hội nhập nghệ thuật toàn cầu. Mỗi cuộc thi có một tiêu chí khác nhau, ban giám khảo khác nhau nên thị hiếu thẩm mỹ khác nhau. Tôi có tác phẩm đoạt đến 20 – 30 giải quốc tế ở các cuộc thi khắp 5 châu lục, nhưng lại không đạt giải trong nước. Đó cũng là chuyện rất bình thường mà những người chơi ảnh nghệ thuật nên chấp nhận. 5 năm trước, tôi đã tham gia rồi trở thành Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật của Hội NSNA Việt Nam và hiện nay vẫn giữ cương vị này. Tôi không dự thi ảnh nghệ thuật ở Việt Nam nữa để đảm bảo tính khách quan.

Dong lai
Tác phẩm hấp cá chụp ở Quy Nhơn đạt giải thưởng Quốc tế của NSNA Lê Hồng Linh.

 - Để phát triển mạnh hơn, theo ông thì Hội NSNA Việt Nam cần có sự đổi mới theo hướng nào?

Việc đổi mới nên bắt đầu ngay từ cái tên. Hội NSNA Việt Nam đang bàn về lộ trình đổi tên thành Hội Nhiếp ảnh Việt Nam, để gần gũi và thu hút nhiều hơn những người yêu thích nhiếp ảnh. Các tác phẩm, triển lãm của hội viên cũng cần khai thác chiều sâu nhiều vấn đề trong đời thường để mang tính thời sự, gắn bó với cuộc sống cao hơn, gần gũi với công chúng hơn. Như vậy, mới tạo được hiệu ứng xã hội và đóng góp tích cực hơn nữa cho xã hội. 

- Theo ông, ảnh báo chí có cần nâng cao tính nghệ thuật hay không?

Ảnh nghệ thuật và ảnh báo chí có nhiều mối liên quan với nhau. Tôi thấy ảnh báo chí Việt Nam ở rất nhiều báo trong nước hiện nay chất lượng vẫn còn thấp so với tiêu chuẩn chung. Ảnh báo chí nếu biết khai thác, tiếp thu một cách hợp lí các điểm mạnh của ảnh nghệ thuật thì chắc chắn hiệu quả cảm xúc và tuyên truyền sẽ tăng lên rất nhiều. 

- So với các thành phố lớn, phong trào nhiếp ảnh ở các tỉnh lẻ như Bình Định thường gặp nhiều khó khăn. Theo ông đâu là cách để vượt lên?

Muốn khắc phục trước hết đòi hỏi bản thân mỗi nhiếp ảnh gia phải luôn nỗ lực vượt lên chính mình. Bình Định hiện đang có một số nhiếp ảnh gia giỏi, đây là những nhân tố hạt giống cần phát huy để nhân rộng phong trào. Được biết Hội Nhà báo Bình Định cũng đang chuẩn bị thành lập CLB ảnh báo chí. Đây là hướng kết nối đúng để nâng cao kỹ thuật nhiếp ảnh trong lực lượng phóng viên, cũng như phát huy khả năng của các nhiếp ảnh gia cho hoạt động báo chí… để phong trào nhiếp ảnh phát triển mạnh hơn.

- Xin cảm ơn ông !

Đăng bởi: lehobac | 08/06/2010

Truyền nhân võ Tây Sơn lên phim

Phim tài liệu thể thao

Đời võ là câu chuyện cảm động kể về lão võ sư Ngô Bông cả cuộc đời gắn liền với nghiệp võ. Ông không những truyền dạy những nét tinh hoa võ học mà còn để lại một hình ảnh đẹp trong lòng của nhiều võ sinh về nhân cách sống, tinh thần thượng võ.

 

Dong lai
Nhóm tác giả phim tài liệu Đời võ tại lễ trao giải

Nghiệp võ

Lão võ sư Ngô Bông đã 82 tuổi, hiện sống trong ngôi nhà nhỏ ở xã Nghĩa Điền, H.Tư Nghĩa (Quảng Ngãi). Dù tuổi cao, sức yếu nhưng ngày ngày vẫn tập luyện, nghiên cứu và truyền dạy võ nghệ cho con cháu trong vùng. Với ông, học võ trước hết phải biết võ đạo. Bài học nhập môn mà ông truyền đạt cho các võ sinh của mình là phải biết trọng nghĩa, kính trọng bậc sư, trưởng lão, hòa nhã với mọi người. Học võ là để rèn luyện thân thể cường tráng.

Nghiệp võ của lão võ sư Ngô Bông trải qua biết bao thăng trầm. Mồ côi cha mẹ từ khi mới được 3 tháng tuổi, ông phải sống nương nhờ nhà ngoại cho đến lớn. Đây cũng là bước ngoặt để đời ông gắn chặt với nghiệp võ. Được người cậu ruột là Lê Thùy và Lê Chót truyền dạy võ nghệ, sau đó tầm sư học đạo khắp bốn phương, lão võ sư Ngô Bông đã học được không biết bao nhiêu bài võ cổ truyền nổi tiếng của dân tộc. Những bài võ ấy được ông gìn giữ, truyền dạy cho con cháu. Vì thế, nhiều người xem ông là truyền nhân, là kho tàng kinh nghiệm võ thuật, kỹ thuật võ cổ truyền VN.

Tại Đại hội Liên đoàn Võ thuật cổ truyền VN lần thứ 1 năm 1993,  làng võ Việt vô cùng ngạc nhiên khi tận mắt chứng kiến bài Hùng Kê quyền mà Nguyễn Lữ, anh em nhà Tây Sơn mô phỏng các tư thế, các đòn tấn công, phòng thủ của 2 con gà chọi để áp dụng huấn luyện cho nghĩa quân đánh đuổi quân Thanh từ hàng trăm năm trước tưởng chừng như đã thất truyền từ lâu, giờ lại được lão võ sư Ngô Bông giới thiệu và thị phạm rất thành công. Kể từ đó, tên tuổi của ông vang danh khắp nơi. Bài Hùng Kê quyền được chọn vào danh sách 10 bài võ tiêu biểu của võ thuật cổ truyền VN. Năm 2004, tại Liên hoan Võ thuật truyền thống thế giới tổ chức tại Chungju (Hàn Quốc), một lần nữa bài Hùng Kê quyền do võ sư Ngô Bông biểu diễn đã chinh phục được 70 môn phái võ thuật trên khắp thế giới.

Truyền nhân lên phim

Lần đầu tiên nhóm phóng viên trẻ của Đài phát thanh – truyền hình Quảng Ngãi (PTQ) mới vào nghề truyền hình được vài năm, chưa qua một trường lớp đào tạo truyền hình hay điện ảnh nhưng lại “nhảy” vào làm phim tài liệu, đưa lão võ sư nổi tiếng Ngô Bông – một truyền nhân võ thuật Tây Sơn lên phim. Và phim tài liệu Đời võ của nhóm tác giả Nhật Thảo, Thanh Phong, Mẫn Đạt, gồm 3 tập, mỗi tập dài 15 phút đã bất ngờ lên ngôi tại Liên hoan Điện ảnh – truyền hình thể thao và du lịch quốc tế FICTS Việt Nam lần thứ V – 2010 với giải nhất dành cho thể loại phim tài liệu thể thao.

 

Lão võ sư Ngô Bông biểu diễn bài Hùng Kê quyền 

“Khi nghe Ban tổ chức thông báo phim tài liệu Đời võ đoạt giải nhất, ê-kíp làm phim đều… khóc. Đây là vinh dự quá lớn mà bọn em không hề nghĩ đến”, phóng viên Nhật Thảo thổ lộ.

Để đưa lão võ sư nổi tiếng Ngô Bông lên phim, khắc họa sinh động chân dung một đời võ – một nhân cách sống – một tinh thần thượng võ là điều không dễ dàng ngay cả những đạo diễn, quay phim có tay nghề. Do vậy, hơn 1 tháng rưỡi, cả ê-kíp làm phim trẻ của PTQ đã “ăn ngủ”, vật lộn với Đời võ.

Phóng viên Nhật Thảo – người viết kịch bản và đạo diễn phim đã dẫn dắt câu chuyện về cuộc đời của lão võ sư Ngô Bông khá “ngọt” với mở đầu phim là cận cảnh cuốn sách Đời người – Nghiệp võ khắc họa chân dung các cao thủ võ lâm VN đã đóng góp vào việc bảo tồn và phát triển phong trào võ thuật, trong đó có lão võ sư Ngô Bông. Những trường đoạn phim được thể hiện bằng ngôn ngữ điện ảnh với những khuôn hình, động tác máy đẹp đã gắn kết với nhau tạo cho câu chuyện lô-gích và hấp dẫn người xem.

Liên hoan Điện ảnh – truyền hình thể thao và du lịch quốc tế FICTS Việt Nam lần thứ V – 2010 diễn ra tại Đà Nẵng từ ngày 27 -30.5 với 92 tác phẩm từ 34 đơn vị sản xuất phim trong nước và quốc tế tham dự. Đây là kỳ liên hoan có số lượng đơn vị và số lượng phim tham dự nhiều nhất từ trước tới nay. Kết thúc liên hoan, Ban tổ chức đã trao giải cho 22 tác phẩm ở 6 thể loại.

Cảnh hai con gà chọi đang đấu với nhau để diễn tả những độc đáo của bài Hùng Kê quyền đã làm nên tên tuổi của lão võ sư Ngô Bông. Hay như hình ảnh lão võ sư Ngô Bông ngồi dưới gốc me cổ thụ tại Bảo tàng Quang Trung (Bình Định) với lời bình khá tinh tế: “Hơn 200 năm trôi nổi, ẩn dật trong dân gian và phải hóa thân dưới những hình thức khác nhau để tránh những đòn thù từ hoàn cảnh lịch sử, võ thuật Tây Sơn đã tìm thấy ánh sáng. Ánh sáng đó phát ra từ những người đốt đuốc đi tìm. Lão võ sư Ngô Bông cũng nằm trong số đó. Ông là người cầm đuốc, nhưng chính ông cũng là một ngọn đuốc”.

Theo phóng viên Nhật Thảo, do lão võ sư Ngô Bông bị nặng tai và nhiều khi ngẫu hứng không theo kịch bản khiến đạo diễn cũng… bở hơi tai. Do vậy, phóng viên quay phim Thanh Phong và Mẫn Đạt luôn sẵn sàng camera để “chộp” những hình ảnh đắt nhất. Chính những đoạn phim nằm ngoài kịch bản, “chộp” lúc lão võ sư Ngô Bông ngẫu hứng múa võ, hát bội ngay tại nhà võ sư Phan Thọ ở Tây Sơn (Bình Định) là những hình ảnh đắt giá nhất, chân thực nhất làm người xem càng hiểu hơn niềm đam mê võ thuật của lão võ sư.

Kết thúc phim Đời võ, ê-kíp làm phim đã có một sự sáng tạo độc đáo, sử dụng cảnh ngược sáng tạo nên khuôn hình khá đẹp khi miêu tả lão võ sư Ngô Bông tập nhãn pháp mắt nhìn thẳng vào điểm mặt trời mọc, vận cường lực để hấp thụ tinh hoa của buổi ban mai từ lúc 5 giờ sáng đến khi mặt trời lên cao bằng với ngọn thương cắm bên cạnh. Hình ảnh đó cũng là thông điệp mà ê-kíp làm phim tài liệu Đời võ muốn gửi đến người xem, đó là võ thuật phải hướng đến ánh bình minh, giáo dục nhân cách thượng võ, lòng yêu nước, tôn vinh những người cả đời đã giữ gìn và phát huy võ cổ truyền dân tộc. Chính thông điệp ấy đã đưa phim tài liệu thể thao Đời võ lên bục vinh quang.

. Theo TNO

 Nguồn: http://baobinhdinh.com.vn

Ngô Văn Sở (? – 1795)

Ngô Văn Sở quê ở thôn Bình Thành, phường  Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn, là con của ông Ngô Văn Diễn giữ chức Khinh xạ Vệ úy và bà Nguyễn Thị Mỹ. Ngay từ khi còn trẻ, Ngô Văn Sở là người giỏi võ nghệ và thông hiểu binh pháp. Ông kết nghĩa với Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân trước khi tham gia khởi nghĩa Tây Sơn. Sau đó cả ba người đều theo Tây Sơn và trở thành danh tướng của cuộc khởi nghĩa.

Từ ngày tham gia phong trào Tây Sơn, Ngô Văn Sở trở thành vị tướng tài ba và thân cận của Nguyễn Huệ. Năm 1773, ông tham gia đánh quân Nguyễn trong các trận ở Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận. Năm 1783, ông theo Nguyễn Huệ đánh Nguyễn Ánh ở Gia Định và tham gia đánh quân Trịnh ở phía Bắc năm 1786.

Năm 1787 , Ngô Văn Sở được cử làm Tham tán quân vụ, cùng Võ Văn Nhậm trấn thủ Thăng Long. Về sau, Võ Văn Nhậm có ý định làm phản nên bị loại trừ (5- 1788). Ngô Văn Sở được cử thay Võ Văn Nhậm làm Đại tư mã, lãnh trấn thủ Thăng Long, trông coi 11 trấn Bắc Hà. Trong thời gian này, các quan chức và tướng lĩnh được giao cai quản Bắc Hà như Nội hầu Phan Văn Lân, Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, Hộ bộ Trân Thuận Ngôn, Học sĩ Ngô Thì Nhậm đều theo Ngô Văn Sở giữ Thăng Long. Bắc Bình vương Nguyễn Huệ từng tin tưởng giao phó công việc Bắc Hà cho họ và căn dặn: “Sở và Lân là nanh vuốt của ta. Dụng và Ngôn là lòng dạ của ta. Nhậm là bề tôi mới của ta. Nay ta lấy cái việc quân vụ và quốc chính của 11 trấn Bắc Hà ủy thác cho. Ta thuận cho theo tiện nghi mà làm việc, phải hội đồng thương nghị với nhau, chớ vì cũ mới mà xa cách nhau. Đó là điều mong mỏi của ta vậy…” (Đại Nam liệt truyện. Nxb Thuận Hóa – Huế, 1993, tập 2, tr. 513).

Cuối năm Mậu Thân (1788), vua Càn Long nhà Thanh cử 29 vạn quân đo Tôn Sĩ Nghị chỉ huy kéo sang xâm lược nước ta. Trước binh lực hùng hậu của giặc Thanh, Ngô Văn Sở cho đánh cầm chân đích, rồi rút quân về giữ phòng tuyến Tam Điệp (Ninh Bình), cử Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết vào Phú Xuân cấp báo cho Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ đã đánh giá rất cao “nước cờ Tam Điệp” của Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm. Trong cuộc kháng chiến chống Thanh, Ngô Văn Sở được vua Quang Trung cử làm tướng tiên phong đã góp phần vào thắng lợi huy hoàng chống quân xâm lược, giải phóng Thăng Long vào mùa xuân Kỷ Dậu (1789).

Sau chiến thắng quân Thanh, Ngô Văn Sở cùng Phan Văn Lân, Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích được trao nhiệm vụ trấn giữ Bắc Hà. Năm 1790, Ngô Văn Sở được Quang Trung giao cầm đầu sứ bộ gồm có Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích, Võ Huy Tấn, Vô Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc, Đỗ Văn Công đưa Phạm Công Trị (người giả làm vua Quang Trung) sang Yên Kinh mừng thọ vua Càn Long nhân dịp 80 tuổi. Vua Thanh đón tiếp hết sức nồng hậu, cũng là một thành công về hoạt động ngoại giao của Ngô Văn Sở. Về nước, Ngô Văn Sở tiếp tục được giao nhiệm vụ trấn giữ 11 trấn Bắc thành cho đến thời Cảnh Thịnh.

Năm 1795, vụ biến ở kinh đô Phú Xuân xảy ra, phe phái do Võ Văn Dũng cầm đầu buộc vua Cảnh Thịnh (tức Nguyễn Quang Toản) bắt nộp Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Sau khi dìm chết Bùi Đắc Tuyên, Võ Văn Dũng làm giả chiếu lệnh của Tiết chế Nguyễn Quang Thùy cho người bắt Ngô Văn Sở, cho là phe cánh của Bùi Đắc Tuyên, đóng gông giải về kinh, rồi trên đường đi cho dìm xuống sông.

Đó là cái chết thê thảm của Đại tư mã Ngô Văn Sở do phe cánh thanh trừ lẫn nhau dưới thời Cảnh Thịnh. Ngô Văn Sở trước sau vẫn là một tướng lĩnh tài ba phục vụ hết mình vì sự nghiệp Tây Sơn. Dù sao đối với Thăng Long thời cực kỳ loạn ly ấy, Ngô Văn Sở đã góp phân ổn định trật tự xã hội, yên lòng dân. Việc ông nghe lời Ngô Thì Nhậm rút quân vụ Tam Điệp cũng nói lên một tư cách trọng lẽ phải, không sĩ diện.

Tượng Ngô Thì Nhậm tại đền thờ Quang Trung – Quy Nhơn

Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803)

Ngô Thì Nhậm, tự là Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên, khi nghiên cứu Thiền học lại có đạo hiệu là Hải Lượng, sinh ngày 11 tháng 9 năm Bính Dần (25-l0-1746). ông người làng Tả Thanh Oai (tên Nôm là làng Tó), huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội.

Ngô Thì Nhậm là con trai cả của Ngô Thì Sĩ (1726-1780), một nhà sử học và là nhà thơ nổi tiếng lúc bấy giờ. Thuở nhỏ, Ngô Thì Nhậm được cụ nội (Ngô Trân) và ông nội (Ngô Thì Ức) dạy, sau học thân phụ.

Ông bước vào con đường trước thuật rất sớm. Năm 16  tuổi (1761), dưới sự hướng dẫn của cha, ông đã viết công trình sử học đầu tiên, cuốn Nhị thập tứ sứ toát yếu.

Năm 20 tuổi (1766), ông soạn cuốn Tứ gia thuyết phả và trước đó, năm 1765, ông đỗ đầu thi Hương.

Năm 1769, Ngô Thì Nhậm đỗ khoa Sĩ vọng, được bổ chức Hiến sát phó sứ Hải Dương. Với chức quan hành chính thất phẩm này, Ngô Thì Nhậm chính thức bước vào cuộc đời hoạt động chính trị, mong muốn thực hiện hoài bão làm một hiền thần như Y Doãn!

Nhưng đến cuối năm 1771, Ngô Thì Sĩ mắc tai họa ở Nghệ An và bị cách chức, thì Ngô Thì Nhậm cũng lấy cớ đó mà cáo quan xin về. Năm 1772, ông dự khảo thí ở Quốc Tử Giám, trúng ưu hạng, và cũng năm này hoàn thành tác phẩm Hải Đông chí lược, chép “khá rõ ràng đây đủ” (lời Phan Huy Chú) về nhân vật, núi sông, số dân, thuế lệ của Hải Dương.

Khoa thi năm Ất Mùi (1775), Ngô Thì Nhậm đỗ thứ 5 hàng Tiến sĩ tam giáp. Cùng đỗ khoa này có em rể ông là Phan Huy Ích, và người cùng làng là Nguyễn Nha. Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông được bổ chức Hộ khoa cấp sự trung ở bộ Hộ. Năm sau được thăng Giám sát Ngự sử đạo Sơn Nam, rồi lại thăng Đốc đồng trấn Kinh Bắc, kiêm Đốc đồng Thái Nguyên. Chức Đốc đồng một trấn ở dưới chức Trấn thủ một bậc, là một chức phó, có nhiệm vụ tra xét ngục tụng. Lúc này Ngô Thì Sĩ đang làm Đốc trấn Lạng Sơn, một trọng trấn biên giới, và như thế là “một nhà hai cha con thống lĩnh ba trấn và khống chế hai biên thùy”. Cha Đình nguyên, con Tiến sĩ “cha con đồng triều, phụ tử thế khoa”, “nổi tiếng văn chương với thiên hạ, trung thành cố kết với chúa thượng”, thời bấy giờ, đó là điều hiếm có; mà cha con Ngô Thì Nhậm cũng hết sức tự hào.

Từ sau khi Trịnh Sâm lập Trịnh Cán làm thế tử, mâu thuẫn giữa các phe phái trong phủ Chúa ngày càng nghiêm trọng. Trịnh Sâm mất (1782), kiêu binh nổi loạn đưa Trịnh Tông lên làm chúa, khủng bố phe cánh đối lập Ngô Thì Nhậm bị hiềm nghi có dính líu vào vụ án năm Canh Tý (1780) nên phải bỏ về vùng Thái Bình (Sơn Nam) ẩn dật. Thời gian này, Ngô Thì Nhậm làm sách Xuân Thu quản kiến.

Năm 1786, Tây Sơn ra Bắc dẹp tan họ Trịnh, lấy lại quyền bính cho vua Lê, Ngô Thì Nhậm được triều đình mời về phong chức Đô cấp sự trung bộ Hộ, thăng Hiệu thư kiêm Toản tu Quốc sử. Năm 1788. Tây Sơn lại ra Bắc, Lê Chiêu Thống bỏ chạy, Ngô Thì Nhậm được Trần Văn Kỷ tiến cử với Quang Trung, được Quang Trung yêu mến, trọng dụng, phong chức Công bộ Thị lang, tước Tình Phái hầu.

Cuối năm 1788, khi 29 vạn quân Thanh sang xâm chiếm nước ta, Ngô Thì Nhậm là người có công lao lớn đóng góp vào sự nghiệp đại phá quân Thanh. Sau chiến thắng oanh liệt năm 1789 , Ngô Thì Nhậm được Quang Trung giao cho giữ vai trò chủ yếu trong công tác ngoại giao với nhà Thanh.

Năm 1790, Ngô Thì Nhậm được thăng Binh bộ Thượng thư.

Ngày 29 tháng 7 (nhuận) năm Nhâm Tý (1792), Quang Trung mất sau một cơn bệnh đột ngột. Ngô Thì Nhậm được triều đình cử làm Chánh sứ đi sang Yên Kinh báo tang và cầu phong cho vua mới (1793).

Quang Trung mất, Quang Toàn lên nối ngôi lúc mới 15 tuổi. Cái chết đột ngột của Quang Trung làm cho nội bộ Tây Sơn lâm vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Trong tình hình chính trị rối ren của những năm cuối triều đại Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm đã không phát huy được tài năng và tâm huyết của mình như trước. Mặt khác, người hiểu ông, tin cậy trọng dụng ông là Nguyễn Huệ – đã mất. Từ nay, ông cũng như người bạn đồng thời là em rể là Phan Huy Ích cảm thấy mình “như bóng nhạn cô đơn”. ông tìm lối thoát trong triết học. Ông lập Thiền viện Trúc Lâm ở phường Bích Câu và nghiên cứu Thiền học. Năm 1796, Ngô Thì Nhậm hoàn thành tác phẩm lớn cuối cùng của mình: Trúc Lâm tông chí nguyên thanh.

Năm 1802, Nguyễn Ánh, sau khi đánh lấy Phú Xuân đã chiếm được Thăng Long. Triều đại Tây Sơn sụp đổ. Gia Long lên ngôi và tiến hành một cuộc khủng bố, trả thù dã man dòng họ Tây Sơn cùng các quan lại của Tây Sơn. Ngô Thì Nhậm, một nhân vật trọng yếu của Tây Sơn bị nhà Nguyễn căm ghét, bắt giam. Ít lâu sau, Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích bị đem ra kể tội và đánh đòn “thị nhục” tại Văn Miếu Thăng Long. Ngô Thì Nhậm “bị đánh chết”, theo chính sử (Đại Nam thực lục) của triều Nguyễn. Hôm đó là ngày 16 tháng 2 năm Quý Hợi (9-3-1803), ngày kết thúc bi thảm cuộc đời 57 năm của một con người mà tên tuổi gắn bó với một giai đoạn lịch sử oanh liệt của dân tộc.

Ngô Thì Nhậm là một tài năng lớn trên nhiều lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, văn học, sử học, triết học, quân sự… mà lĩnh vực nào cong có những cống hiến xuất sắc, in đậm dấu ấn của một nhân cách hơn người.

Nguyễn Huy Lượng (1750 – ?)

Giả sử như không có một chút tài liệu gì về tình hình kinh tế Thăng Long thời Tây Sơn thì Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng cũng có thể bù được phần nào chỗ khiếm khuyết đó.

Nguyễn Huy Lượng quê làng Phú Thị, nay thuộc huyện Gia Lâm, có thời gian gia đình chuyển cư vào sống ở làng Lương Xá, huyện Chương Mỹ (Hà Tây). Đời Lê Mạt, ông đỗ Hương cống, ra làm một chức quan nhỏ ở Bộ Lễ. Chỉ từ sau khi Quang Trung đại phá quân Thanh, Nguyễn Huy Lượng nhận ra được con đường đúng đắn mà mình phải theo: dứt khoát đi cùng Tây Sơn. ông được triều Tây Sơn giao cho chức Hữu thị lang bộ Hộ, phong tước là Chương Lĩnh hộ, do đó người đời còn gọi ông là Hữu Hộ Lượng. Lúc Nguyễn Huy Lượng viết bài phú cũng là lúc nhà Tây Sơn đã suy vi, Quang Toản đã phải bỏ kinh đô Phú Xuân dời ra đóng đô ở Thăng Long. Vậy mà khi sáng tác, ngòi bút Nguyễn Huy Lượng còn say sưa, bay bổng, tung hoành với chế độ Tây Sơn rất giàu lòng tin yêu đối với chế độ ấy.

Bài phú Tụng Tây Hồ là một kiệt tác của Nguyễn Huy Lượng nói riêng và của văn học cổ điển Việt Nam nói chung. Có người đã đánh giá như sau: “Yêu cầu của thể loại phú nói chung là phải trang trọng, réo rắt, diễm lệ. Nguyễn Huy Lượng đạt được cả ba”.

Bài phú này có nội dung chủ yếu là ca ngợi cảnh trí Hồ Tây nói riêng, Thăng Long nói chung và qua đó ca ngợi sự nghiệp hiển hách vẻ vang của triều Tây Sơn. Hồ Tây với tư cách là một phần của kinh đô Thăng Long đã hiện ra thật mỹ lệ:

Sắc rờn rợn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích nổi lên dòng leo lẻo

Hình lượn lượn uốn vòng câu bạc, tưởng vầng trăng rơi xuống mảnh nhò nho.

Hồ Tây đã ấp ủ bao truyền thuyết thơ mộng và kỳ vĩ, bao dấu vết lịch sử đẹp đẽ và hào hùng: Đền Mục Lang, quán Trấn Vũ, quán Thiên Niên, ghềnh Vạn Bảo, chùa Trấn Quốc… Nhưng quan trọng hơn là tác giả đã cho thấy sức sống của Hồ Tây, của Thăng Long. Đó là cuộc sống lao động cần cù của những người dân ven hồ, cuộc sống đang độ phát triển và chính do những chính sách cởi mở khuyến khích của Tây Sơn mà có. Đó còn là sự phồn thịnh trở lại của các nghề cổ truyền như dệt gấm, ươm tơ, đúc đồng, xeo giấy… là những sinh hoạt kinh tế nhộn nhịp, thuyền buôn tấp nập, chài lưới rộn ràng:

Rập’ rềnh cuối bãi Đuôi Nheo, thuyền thương khách hãy chen buồm bươm bướm…

Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng, Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co.

Liễu bờ kia bay tơ biếc phất phơ, thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm.

Sen vũng nọ nẩy tiền xanh lác đác, lửa đóm ghen năm xã gây lò.

Và dù là viết về Hồ Tây thì cũng là viết về thành Thăng Long đang “hồi sinh” cùng với thắng lợi của nghĩa quân nông dân.

Tựa bóng hoa đặt quán Quan Ngư, kìa đời Gia Khánh

Đè mặt sóng đem đường Dụ Tượng, nọ thuở Càn Phù.

Thăng Long cũng có những lúc “nổi bụi tiêu tường”, “góp phần tang hải”. Nhưng từ khi có triều Quang Trung, Thăng Long cũng như cả nước ta như được “sống lại”, kẻ thù bị đánh tan, nhân dân được yên ổn làm ăn, núi sông như rửa sạch tủi hờn, cỏ cây cũng được khoe hương khoe sắc hy vọng.

Trước sau Nguyễn Huy Lượng vẫn tán dương sự nghiệp của Tây Sơn, vẫn bày tỏ lòng trung thành đối với chế độ này vì chế độ này chính nghĩa.

Cho nên với bài Tụng tây Hồ phú ta có thể nói rằng Nguyễn Huy Lượng là người đã vận dụng thể phú để sáng tạo nên một công trình cao hơn rất nhiều tầm cỡ một bài phú cổ điển thông thường. Hai nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi và Phương Tri đã có lý khi nhận định rằng bài phú này đã là “một bức bích họa về Hồ Tây từ trước chưa từng có, đồng thời cũng là một thiên sử ca tương đối quy mô về Thăng Long, mà cái ý nghĩa quý giá nhất, là nó đã được trực tiếp xây dựng nên dưới ánh sáng của phong trào nông dân khởi nghĩa, tiếp thu được đến chừng mực nào đó cái âm hưởng lạc quan đầy phấn khởi do một phong trào nông dân lớn nhất trong lịch sử mang lại. Với ý nghĩa là một áng sử ca, nó là những lời ca ngợi chân thành chiến công cứu nước của Nguyễn Huệ, chiến công có ý nghĩa đổi đời cho Thăng Long, và rộng ra là cả xã hội Việt Nam. Với ý nghĩa là một bức họa, phần nào đã ghi lại những khung cảnh sinh hoạt tươi đậm của Thăng Long dưới triều Tây Sơn”. Minh đô sứ cũng có ghi lại một chi tiết lý thú góp phần nói lên giá trị của bài phú này: “Nguyễn Huy Lượng hiến Tây Hồ tụng, Nhân tranh truyền tả, đô hạ vị chi chỉ quý”. Nghĩa là: ‘Nguyễn Huy Lượng dâng phú Tụng Tây Hồ. Người ta tranh nhau truyền chép, ở kinh đô giấy quý hẳn lên”.

Tới Mậu Thân từ rỡ vẻ tường vân, sông núi khắp nhớ công đắng địch

Qua Canh Tuất lại tưới cơn thời vũ, cỏ cây đều gội đức triệm nhu.

Mậu Thân là năm 1788, năm Nguyễn Huệ lên ngôi vua. Canh Tuất là năm quân đội Tây Sơn tiêu diệt hết bọn làm loạn trong nước và bọn khiêu khích ở biên thùy.

Rõ ràng Tây Son đã làm cho đất nước “rỡ vẻ tường vân”, “tưới cơn thời vụ’, tức rực rỡ mây lành, thấm đượm mưa nhuần. Dưới triều đại này, khắp nơi vui vầy, thanh bình:

Bãi cỏ non trâu thả, ngựa buông, nội chu đã lắm dưới ca ngợi

Làn nước phẳng kình chìm, ngạc lặn, ao Hán nào mấy trẻ reo hò.

Thật là một niềm hồ hởi, lạc quan. Cho tới cuối bài phú, vẫn mãi một niềm vui say không giảm, vẫn hy vọng, dù tiếng súng của Nguyễn Ánh đã vang dội ra Bắc Hà.

Chỉ với bài phú này, Nguyễn Huy Lượng cũng xứng đáng là một nhà văn tiêu biểu của nền quốc văn tiến bộ thời Tây Sơn, xứng đáng cổ một vị trí trong nền văn học cổ điển Việt Nam nửa sau thế kỷ XVIII.

Theo Lịch sử Thăng Long- Hà Nội, Nguyễn Vinh Phúc (cb), Lê Văn Lan, Nguyễn Minh Tường, NXB Trẻ, Tp.HCM, 2005.

 

.Theo Báo Tuyên Quang

 
Quách Tấn (1910-1992)

Quách Tấn (1910–1992 ), thi sĩ, nhà văn, hiệu Trường Xuyên, tự Đăng Đạo, sinh ngày 4.1.1910 tại làng Trường Định, huyện Bình  Khê, tỉnh Bình Định (nay thuộc xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định), Sống và làm việc ở Nha Trang từ năm 1940 đến ngày qua đời. Thuở nhỏ ông học chữ Hán ở nhà với cha, đến năm 12 tuổi chuyển sang học chữ Pháp và Quốc Ngữ . Năm 1929 đậu bằng Thành chung, được bổ làm việc tại tòa sứ Huế , Nha trang ….

Trước thế chiến thứ 2, ông từng cộng tác với các báo : An Nam tạp chí , Tiếng dân , Phụ Nữ tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy … Lúc viết báo, làm thơ, ông chơi thân với Hàn Mặc Tử, Bích khê, Chế Lan Viên, đương thời gọi là Bàn Thành Tứ Hữu (bốn người bạn ở đất Đồ Bàn – Bình Định)

Sau năm 1945, ông tản cư về Bình Định, tham gia công tác Bình dân học vụ, dạy ở Trung học Bình Định, là thành viên của Mặt trận Liên Việt huyện Bình Khê. Hòa bình lập lại (1954 ), ông hồi cư về Nha Tang; đi làm công chức ở Quy nhơn; có lúc làm Phó Tỉnh trưởng tỉnh Bình Định ..Rồi về hưu trong năm 1965 tại Nha Trang ..

Quách Tấn là một nhà thơ cổ điển (Đường luật) Việt Nam. Theo Nguyễn Hiến Lê (1 ) “Ông là nhà thơ Đường siêng năng nhất Việt Nam.” 

 Ông từng có hơn 1500 bài thơ Đường, trong dó có khoảng 900 bài cận thể , thất tuyệt , ngũ tuyệt…trên 400 bài lục bát và chỉ có một số ít đã in (đã xuất bản)  trong các tập “Mùa cổ Điển”, “Mộng Ngân Sơn”, “Đọng Bóng Chiều”, “Tố Như Thi” …Nhưng dầu ở thể thơ gì thì thơ Quách Tấn vẫn có cảm xúc mới, ý lạ mà nồng nàn, khiến người đọc rung động, bồi hồi theo nỗi lòng cô đơn lắng đọng, yêu đời của tác giả; hoặc đìu hiu như bên bờ sông lạnh …Đó là tiếng hư không vọng về từ cõi âm:

Bờ nghiêng lau lách bóng sương lồng,

Trăng muộn vàng  canh cánh mặt sông,

Đời mới khói mây chìm bóng mộng ,

Gọi đò một tiếng lạnh hư  không!                         

Hoặc dạt dào tình cảm mà không bi lụy như bài Mộng thấy Hàn Mặc Tử :

Ơi Lệ Thanh! Ơi Lệ Thanh !

Một gấc trưa nay lại gặp mình.

Nhan sắc châu sa màu phú quý

Tài ba bút trổ nét tinh anh,

Rượu tân thu cũ say sưa chuyện,

Hương lạ trời cao bát ngát tình,

Tôi khóc tôi cười vang cả mộng            

Nhớ thương đưa lạc gió quanh mình. 

Đúng Quách Tấn là nhà thơ cổ điển (như tên gọi một thi phẩm của ông), rất chung thủy với thơ Đường của văn học Việt Nam. Nhưng có điều đáng suy ngẫm là thơ họ Quách không cổ, không lỗi thời với tháng năm trong tiến triển của thơ Việt. Bên cạnh  nhà thơ cổ điển này-Quách Tấn thi sĩ – còn là văn sĩ viết văn xuôi rất sung mãn; đó là Nhà Tây Sơn (1988); Đôi nét về Hàn Mặc Tử (1972); Đời Bich Khê(1971); Thi Pháp Thơ Đưong (1978), Mà đặc sắc nhất là hai cuốn có tính địa phương chí; Non nước Bình Định (1968), Xứ Trầm hương (1969) mang phong cach văn chương, đầy tính nghệ thuật. Song ít ai biết đến một tài lạ khác là Quách Tấn có khiếu viết Văn Tế cac Danh nhân Việt Nam. Xin trân trọng giới thiệu một trong nhiều bài văn tế mà ông dã sáng tác.

 

Đồng bào Bình Định Tế Vua Quang Trung    

                  -Ngày Kỷ niệm Đống Đa-

 

Than ôi !

Dòng Côn thủy mây lồng thức gấm

Mãn vui tình mai liễu đọ xuân

Đỉnh Tây Sơn sóng cuộn sóng tùng

Chạnh tưởng đức anh hùng cứu quốc.

Nhớ tôn linh xưa ;

Khí cốt lăng tằng,

Anh tư khôi đặc;

Sưc điều binh, tài khiển tướng

Hạng Võ , Lưu Bang;

Lòng trọng sĩ, lượng tôn hiền

Văn Xương , Huyền Đức,

Tình đất nước giận cơn chia xẻ;

Lưỡi gươm trần dẹp loạn cứu dân.

 

Nghĩa Bắc Nam trải dạ gắn hàn,

Thân áo vải giúp Anh dựng nước.

Quy Nhơn biển lặng , rưc rỡ ánh tường vân,

Thuận Hóa trời cao , chói chang vầng bạch nhật.

Xiêm phô áo phủ,

Trên chín trùng toan mối trị bình,

Vuốt dũa nanh mài,

Ngoài muôn dặm rắp tâm xâm lược.

Cõng rắn tội kìa ai?

Bắt hùm tay sẵn chước;

Tế Trời Đất, đàn giao cao vút núi,

Bóng tinh kỳ sáng dọi buổi Đăng quang;

Nhìn non sông khí giận ngất tầng mây;

Tiếng hiệu lệnh sấm vang giờ xuât phát;

 

Hùng binh mười vạn hăng hái hy sinh                              

Chiến tượng hai trăm tinh tường trận mạc

Lòng một quyết ra tay hàng hổ

Hẹn nước non ca khúc khải hoàn sau;

Chỉ mười ngày dẹp giống sài lang,

Cùng tướng sĩ chung vui Nguyên đán trước.

Cạn lời ủy lão , trống dục cờ giong ; 

Dốc dạ truy tìm, non băng biển vượt.

Ngày ba mươi tháng chạp , sông Giản Thủy dồn binh;

Đêm mồng ba tháng giêng , đồn Hạ Hồi hãm giặc.

                                          

Đánh trận này tiếp trận khác, sấm dậy chớp giăng;

Xong đồn nọ tới đồn kia , ngói tan dá nát.

Khuya mồng bốn gió sương mờ mịt,

Đót hương rừng lửa đỏ, khiến ba quân liều chết chớ lui;

Sáng mồng năm voi ngựa sẵn sàng,

Quấn cổ thước khăn vàng , quyêt một trận chẳng hơn thì thác. 

Thế giặc dẫu binh đông tướng dữ;

Thuốc súng chôn quanh thành, chông sắc cắm khắp lũy

Thêm bốn bề đạn rạt rào mưa;

 

 Quân ta nhờ trí sáng gan bền,

Ván dày cột thành cốt ,rơm ướt phủ làm bì,

Hè một rập , sức cuồn cuộn thác.

Ầm tiếng pháo , Ngọc Hồi kíp hạ,

Sông máu láng lai;

Thúc chân voi , Khương thượng gần thâu,

Núi thây chồng chất.

Nghi Đống liệu khôn bề sống sót,

Vội vàng treo cổ! Đống Đa!

Sĩ Nghĩ may tìm được lối ra;

Hớt hải thoát thân mãn Bắc.

Ngoài ải sôi gió tan mùi sát khí,

Niềm hân hoan nhuộm thắm đất sơn xuyên.

Vào Thành Long cờ rợp bóng vinh quang ;

Áo chiến thắng phủ đen hồn đạn dược .

Mười ngày hẹn trước trời đất chứng lời vàng;

Hai bận vui xuân , cỏ hoa mừng tiệc ngọc,

Lửa tạnh hề biên cương,

Nền cao hề xã tắc.

Tiếng anh dũng nước mây lừng lẫy sấm.       .   

Triều Mãn Thanh bóp bụng sống chung trời.

Chí đấu ranh son sắt vững vàng non,

Mi ền Lưỡng Quảng quyết tâm đòi lại đất!

                

 Nhưng than ôi !

Tấm gan rèn đá Trời , chửa vá xong ,

Đỉnh ngự chìm mây rồng sao vội khuất!

Cơ cường thịnh thiếu tay xếp đặt,

Cửi dồn thoi phút để mối tơ chùng.

Nghiệp đế vương đuối sức giữ gìn,

Thuyền thuận bến trúc theo cơn lật !

Trời Phú xuân sương gió lạnh lùng,

Biển Thị Nại bèo mây tản mát !

Bút chép sử múa men , tay đắc thế;

Trang oanh liệt son nhòa !

Nền ghi ân khuất bóng cô thôn ;

Gương anh hùng thủy nhạt!

Nối chí cả người sau toan lấp hận;

Lao công Tinh Vệ ngậm ngùi thương !

Gìn dấu linh , chốn cũ khó nguôi tình .

Lắng giọng đề quyên tê tái ruột .

 

Cũng may thay !

Lẽ tuần hoàn trời đất chẳng ngừng xoay,

Ách chuyên chế giống nòi nay đã thoát.

Trăng hào kiệt bấy lâu u ám,

Ngọn Đông phong mát mẻ vén màn sương .

Vườn anh hoa dua nở tự do,

Bút thanh nghị ngọt ngào rơi giọt móc .

                                                    

Chúng tôi nay :

Chung gọi ơn xuân

Kính dâng lễ bạc

Non xanh nước biếc , khí anh tú mơ màng,

Nỗi thẳm ngàn xa hương tinh thành bát ngát .

Dòng lịch sử mở ra ôn lại ,

Dịu dang , chữ gấm dệt lời hoa ,

Tranh vĩ nhân mở rộng xem chung,

Lộng lẫy chỉ vàng treo bóng ác .

Hầm Hồ con cá nhảy ,

Trong bóng mây thấp thoáng bóng rồng.

Trưng lĩnh cánh diều bay ,

Theo tiếng gió nhịp nhàng tiếng nhạc…

 

Linh thiêng xin chứng.     

Q.T phụng soạn                    

. Theo vanhoanghean.vn

Là người ngay thẳng sáng suốt, Quang Trung không đổ vấy lỗi phá phách ở Văn Miếu cho Trịnh Khải, kẻ thù đã bị ông đánh đổ. Ông xác nhận “trăm nghìn hãy cứ trách bồi vào ta”.

Văn Miếu Hà Nội được lập từ năm 1070 đời Lý Thánh Tông. Ðấy là nơi thờ Khổng Tử và là trường học của con cái vua quan đồng thời là nhà chứa ván in sách và in sách của nhà nước để ban bố trong toàn quốc.

Vào thăm Văn Miếu, qua cửa Ðại Trung đến gác Khuê Văn, đứng trông vào phía trong, ta thấy phía hai bên giếng Thiên Quang mỗi bên có hai dãy bia gồm 82 cái. Kể từ khoa thi năm 1442, lệ triều Lê định việc dựng bia khắc tên các vị đậu tiến sĩ (những ông nghè) để làm kỷ niệm, cho nên dân gian có câu:

Bảng vàng bia đá nghìn thu

Trải qua những cơn loạn lạc cuối triều Lê, nhà bia Văn Miếu bị đốt cháy, bia đá bị đạp đổ. Nông dân trại Văn Chương (ở gần Văn Miếu) không đành lòng khi nhìn thấy cảnh hoang tàn của một di tích văn hóa lâu đời của dân tộc. Họ nhờ một nhà nho là Hà Năng Ngôn (tức Tam Nông tiên sinh) là quân sư bí mật của Quang Trung làm một bài sớ gửi Quang Trung xin dựng lại nhà bia Văn Miếu. Bài sớ làm năm 1789 có những đoạn như sau:

Chúng tôi một lũ dân cấy hái,

Trái mùa sinh vào trại Văn Chương.

Trong khi cày ruộng cuốc nương,

Vành ngoài trông vọng cung tường miếu văn.

Có một thá (*) băn khoăn trong dạ.

Mượn thầy nho phô tả ra tờ.

Dám mong lọt cửa quân cơ,

Gió nam đưa tới dưới cờ ngài Quang Trung:

Bốn năm trước, giữa năm Bính ngọ (1786),

Ngài đem quân ra thú Bắc hà,

Oai trời sấm sét thoảng qua,

Cơ đồ họ Trịnh bỗng ra tro tàn.

Bia tiến sĩ vô can vô tội,

Mà vạ lây vì nỗi cháy thành.

Bia thì đạp đổ tung hoành,

Nhà bia thì đốt tan tành ra gio.

Có kẻ nói:

Tội ác ấy là do Trịnh Khải,

Lúc sa cơ hắn phải trốn ra.

Dặn về thuê kẻ côn đồ,

Phá bia tiến sĩ để cho bõ hờn.

Có kẻ nói:

… Hay chăng quân lính nhà Ngài

Trong khi xung sát ra oai thi hùng.

Bia tiến sĩ bỗng không mà đổ…

*

Chúng tôi chiếu lại hai lời ấy.

Sự thực hư chưa thấy rạch ròi.

Song le việc đã qua rồi,

Chẳng chi bới móc tìm tòi uổng công.

Chỉ xin được Ngài trông vì nước,

Dựng lại bia cho được y nguyên.

Trước là giáo dục kẻ hiền,

Sau là văn mạch (**) dõi truyền dài lâu.

Vua Quang Trung rất lưu tâm đến công việc văn hóa và mở rộng giáo dục. Ông muốn dùng chữ nôm, tiếng nôm trong các chỉ thị, thư từ để dân dễ hiễu. Năm 1786 trước khi tiến quân ra bắc, ông đã sai thảo tờ hịch bằng chữ nôm kể tội họ Trịnh. Năm 1788 ông lại tự tay viết thư bằng tiếng nôm gửi cho nhà nho Nguyễn Thiếp. Sau khi lên ngôi, những mệnh lệnh của triều đình Quang Trung phần lớn viết bằng chữ nôm. Ông sai dịch các sách chữ Hán ra chữ nôm dạy cho học trò học. Thi cử cũng dùng chữ nôm. Trên cơ sở đó, ông muốn mở rộng trường học xuống tận xã, chỉnh đốn lại việc học, việc thi để đào tạo những quan lại có năng lực. Lẽ tự nhiên đối với Văn Miếu, một thứ “trường đại học” của thời phong kiến, một di tích văn hóa quý giá của dân tộc, Quang Trung cũng phải lưu ý. Nhưng vì quá bận các công việc quan trọng cấp bách khác, ông chưa tới thăm Văn Miếu được.

Trong tờ sớ gửi Quang Trung, nông dân Văn Chương có ý trách:

Kề cửa Khổng sân Trình gang tấc,

Ðào tạo nên nhiều bậc anh tài,

Một nền văn hiến lâu dài,

Tiếc thay chưa được đón Ngài ngự thăm!

Nhưng nông dân Văn Chương tin rằng nếu Quang Trung biết đến việc phá phách ở Văn Miếu, thế nào ông cũng cho sửa chữa lại. Chính vì vậy họ không hề ngại mình thân phận dân cày, mạnh dạn viết thư cho vua. Mà thực ra xưa nay chưa hề có việc ấy bao giờ!

Quả nhiên, nhận được tờ sớ của nông dân Văn Chương, Quang Trung đã phê ngay vào tờ sớ:

Thôi, thôi, thôi việc đã rồi

Trăm nghìn hãy cứ trách bồi vào ta

Nay mai dọn lại nước nhà,

Bia nghè lại dựng trên tòa muôn gian.

Cơ đồ họ Trịnh đã tan,

Việc này cũng đừng đổ oan cho thằng Trịnh Khải!

Thật đặc biệt. Một ông vua mà lại phê chỉ thị bằng thơ lục bát, thể thơ độc đáo của nhân dân Việt Nam! Và Quang Trung quả là người ngay thẳng sáng suốt. Ông không đổ vấy lỗi cho người khác, dù là cho kẻ thù đã bị ông đánh đổ. Ông xác nhận là lỗi của quân Tây Sơn. Và cảm thông với thái độ đúng đắn và xây dựng của nông dân đối với di tích văn hóa, ông hứa sẽ cho dựng lại bia nghè và nhà bia ngay. Sau đó, theo lệnh Quang Trung, các quan Tây Sơn ở Bắc thành đã bỏ tiền công ra tu sửa ngay Văn Miếu và dựng lại các bia tiến sĩ.

(*) Có một điều

(**) Nền văn hóa dân tộc

. Theo chinhphu.vn

Hiện nay, Dự án Vệ sinh môi trường TP Quy Nhơn đang triển khai thực hiện và đã hoàn thành khoảng 60-70% các hạng mục của giai đoạn 1; đối với công tác chuẩn bị cho giai đoạn 2 cũng đã thực hiện được khối lượng công việc đáng kể. Tuy nhiên, theo nội dung Báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 2 thì tổng kinh phí đầu tư cần thiết cho giai đoạn này xấp xỉ 77 triệu USD. Tổng nguồn vốn cần thiết cho cả hai giai đoạn của dự án là 95,6 triệu USD. Vì vậy, UBND tỉnh Bình Định đã có văn bản gửi Bộ KH&ĐT, các Bộ, ngành Trung ương và Ngân hàng Thế giới đề nghị bổ sung vốn cho Dự án với số tiền 38,4 triệu USD; trong đó vốn IDA 34,56 triệu USD.

Dự án Vệ sinh môi trường TP Quy Nhơn có mục tiêu hoàn thiện và phát triển cơ sở hạ tầng, cảnh quan đô thị, đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố; cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân… Được biết, kinh phí đầu tư ban đầu của Dự án là 57,2 triệu USD, trong đó giai đoạn 1 là 16,8 triệu USD.

Phi Hùng

Nguồn: http://baobinhdinh.com.vn/kinhte-phattrien/2010/6/92251/

Hội chợ Thương mại Quốc tế Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung – Tây Nguyên (CREXPO 2010) do Bộ Công Thương cùng các bộ, ngành Trung ương và tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức, diễn ra từ ngày 4 đến 10.6, tại thành phố Huế. Tham gia hội chợ này, tỉnh ta có 10 gian hàng, trong đó 6 gian hàng trưng bày, giới thiệu thành tựu kinh tế – xã hội, tiềm năng và thế mạnh của tỉnh và 4 gian hàng phục vụ các món ăn đặc sản của tỉnh.

Trong khuôn khổ hội chợ, vào ngày 6.6.2010, diễn ra Hội nghị Xúc tiến đầu tư và thương mại Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Tây Nguyên. Hội nghị là dịp để các tỉnh giới thiệu tiềm năng thế mạnh – cơ hội đầu tư vào các lĩnh vực hạ tầng đô thị, phát triển công nghiệp và du lịch, dịch vụ đến các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương tỉnh sẽ tham gia Hội nghị này, qua đó sẽ giới thiệu và quảng bá hình ảnh tỉnh nhà với tiềm năng đa dạng, phong phú, con người và chính sách cởi mở, thông thoáng, các cơ hội đầu tư cụ thể, nhằm tạo bước đột phá trong thu hút đầu tư vào tỉnh.

Ngọc Thái

Nguồn: http://baobinhdinh.com.vn/kinhte-phattrien/2010/6/92217/

Chiều ngày 7.6, tại phường Ghềnh Ráng, Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa đã tổ chức lễ khánh thành và đưa vào hoạt động khu điều trị kỹ thuật cao 11 tầng với tổng vốn đầu tư 49,9 tỉ đồng. Đến dự có Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Xuyên; về phía tỉnh có Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Thanh Tùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thanh Bình.

Khu điều trị kỹ thuật cao với 100 giường bệnh của 20 khoa, phòng, có năng lực thu dung chăm sóc và chức năng áp dụng các kỹ thuật cao trong khám và điều trị các bệnh lý về da, nội khoa, phẫu thuật… bằng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại, phục vụ bệnh nhân đến từ 11 tỉnh khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Đây là một trong ba hạng mục đầu tư cơ sở hạ tầng nằm trong khuôn khổ Dự án đầu tư xây dựng, cải tạo mở rộng Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa theo quyết định của Bộ Y tế.

Phát biểu tại lễ khánh thành, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thanh Bình nhấn mạnh: việc Bệnh viện Phong- Da liễu Trung ương Quy Hòa đưa vào sử dụng khu điều trị kỹ thuật cao là niềm vui lớn đối với ngành Y tế các tỉnh; góp phần nâng cao chất lượng khám và điều trị các bệnh phong, da liễu và các bệnh hệ nội của người dân Bình Định nói riêng và các tỉnh trong khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

* Cùng ngày, Bệnh viện cũng đã tổ chức hội nghị giao ban, sinh hoạt khoa học chuyên ngành da liễu khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

T.Hiền

Nguồn: http://baobinhdinh.com.vn/

« Newer Posts - Bài viết cũ hơn »

Chuyên mục

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.