Sáng nay (20.1), tại TP Quy Nhơn, UBND tỉnh phối hợp với Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương cùng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tổ chức Hội nghị Xúc tiến đầu tư vào Bình Định năm 2010. Nhân dịp này, PV Báo Bình Định đã phỏng vấn Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Thiện một số vấn đề về công tác thu hút đầu tư vào tỉnh nhà.

Dong lai
Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Thiện

* Thưa Chủ tịch UBND tỉnh, đồng chí đánh giá như thế nào về môi trường đầu tư và kết quả thu hút đầu tư vào Bình Định kể từ khi thực hiện Luật Đầu tư mới (2006)?

- Môi trường đầu tư của Bình Định năm nay được cải thiện hơn năm ngoái. Theo công bố ngày 14.1 vừa qua của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (VNCI) về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), năm 2009, Bình Định được xếp thứ 7 trong cả nước về PCI. So với vị trí thứ 11 của năm ngoái, rõ ràng là chúng ta đã có những tiến bộ khi được cộng đồng doanh nghiệp tin tưởng, đánh giá cao hơn về các yếu tố cấu thành chỉ số môi trường đầu tư – kinh doanh như chính sách, cách làm, tinh thần, thái độ và các điều kiện hạ tầng kinh tế – xã hội khác mà chúng ta đã tích cực chuẩn bị trong thời gian qua.

Mặc dù còn một số khó khăn do ở xa hai trung tâm kinh tế lớn của cả nước, nhưng Bình Định có những lợi thế riêng về vị trí địa lý, cảng biển và vùng hậu phương lớn phía Tây, và về nguồn tài nguyên tự nhiên cũng như nhân văn. Đây chính là những điểm hấp dẫn trong môi trường đầu tư của Bình Định.

Về đầu tư trong nước, trong năm 2009 cả tỉnh có thêm 60 dự án với tổng vốn đăng ký 12.590 tỉ đồng. Trong đó, Khu kinh tế Nhơn Hội có 9 dự án với tổng vốn đăng ký gần 6.940 tỉ đồng; các khu công nghiệp có 21 dự án với tổng vốn đăng ký 1.370 tỉ đồng; ngoài Khu kinh tế Nhơn Hội và các khu công nghiệp có 30 dự án với tổng vốn đăng ký 4.729 tỉ đồng…

Về đầu tư nước ngoài (FDI), trong năm 2009, toàn tỉnh có thêm 4 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 57,12 triệu USD, trong đó Khu kinh tế Nhơn Hội có 2 dự án với tổng vốn đăng ký 50,72 triệu USD.

Trong tháng 1.2010 này, Bình Định đã thu hút thêm 5 dự án có quy mô khá lớn với tổng vốn trên 5.300 tỉ đồng; trong đó UBND tỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 3 dự án với tổng vốn 3.731 tỉ đồng, Ban quản lý Khu kinh tế cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 1 dự án vốn đầu tư 1.440 tỉ đồng và 1 dự án FDI (8 triệu USD).

Dong lai

Khởi công xây dựng Khu công nghiệp Nhơn Hòa (An Nhơn). Ảnh: N.T

Phải nói rằng, kết quả thu hút đầu tư nói chung chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh, nhất là đầu tư nước ngoài. Song trong điều kiện tỉnh ta còn một số hạn chế về hạ tầng và tình hình kinh tế suy giảm trong 2 năm qua thì kết quả thu hút đầu tư này cũng có những điểm khá tích cực. Đặc biệt, cuối năm 2009 và đầu năm 2010 Khu kinh tế Nhơn Hội đã thu hút được một loạt dự án, chứng tỏ hạ tầng tại đây đã thực sự sẵn sàng để đón nhận nhà đầu tư, địa bàn còn lại cũng có những dự án lớn cho thấy làn sóng đầu tư vào tỉnh đã từng bước phục hồi.

* Xin đồng chí cho biết mục đích và đối tượng hướng đến của Hội nghị xúc tiến đầu tư vào Bình Định năm 2010?

- Hội nghị xúc tiến đầu tư vào Bình Định năm 2010 do UBND tỉnh phối hợp với Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương cùng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tổ chức nhằm mục đích: Giới thiệu và quảng bá hình ảnh tỉnh Bình Định với tiềm năng đa đạng, phong phú; con người và chính sách cởi mở, thông thoáng; định hướng phát triển khoa học, hợp lý; các cơ hội đầu tư cụ thể; qua đó tạo bước đột phá trong thu hút đầu tư vào tỉnh, trọng tâm là Khu kinh tế Nhơn Hội và các khu công nghiệp.

Đối tượng mà Hội nghị hướng đến là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp lớn trong nước, các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng đã và đang đầu tư tại Việt Nam.

Dong lai

Đường bay Hà Nội – Quy Nhơn và TP Hồ Chí Minh – Quy Nhơn đã bay bằng máy bay lớn; các chuyến bay hàng ngày rất thuận lợi cho du khách và các nhà đầu tư đến Bình Định.

* Vậy chúng ta đã chuẩn bị được gì để đón các nhà đầu tư?

- Để chuẩn bị đón nhà đầu tư nói chung, chuẩn bị cho Hội nghị này nói riêng, trong thời gian qua, chúng ta đã tiếp tục tranh thủ các nguồn vốn của Trung ương và huy động các nguồn lực đầu tư mới; nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng cả kinh tế lẫn xã hội, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, cấp điện, cấp nước, viễn thông, y tế, giáo dục đào tạo… Việc mở đường bay thẳng Hà Nội – Bình Định và nâng tần suất bay, sử dụng máy bay lớn cho các đường bay Bình Định – Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là một nỗ lực rất lớn của tỉnh, góp phần quan trọng vào việc thu hút, thuyết phục nhà đầu tư và du khách đến với Bình Định.

Hiện nay, tại Khu kinh tế Nhơn Hội đã có trên 300 ha đất khu công nghiệp sẵn sàng đón nhà đầu tư. Bên cạnh đó, hạ tầng các khu công nghiệp Nhơn Hòa và Hòa Hội cùng một số cụm công nghiệp khác cũng đang được hoàn thiện. Tỉnh cũng đang xây dựng và chuẩn bị ban hành các quy định về giá đất đảm bảo tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư.

Dong lai

Cảng Quy Nhơn là một trong những cảng biển lớn của cả nước, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.

* Cũng giống tình trạng chung của cả nước, vấn đề quy hoạch ở tỉnh ta còn một số bất cập, tỉnh đã khắc phục như thế nào?

- Vấn đề quy hoạch chưa sẵn sàng là thực trạng đối với nhiều địa phương. Thiếu quy hoạch sẽ rất khó khăn, lúng túng trong kêu gọi đầu tư. Vì vậy, UBND tỉnh chỉ đạo tập trung cao độ công tác quy hoạch theo hướng khẩn trương lập mới, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng. Quy hoạch hợp lý và kịp thời sẽ tạo ra quỹ đất cho dự án đầu tư, nhà đầu tư có thể tiếp cận, triển khai được dự án và cũng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

* Trong thời gian đến, tỉnh ta sẽ làm gì để tiếp tục thu hút đầu tư vào tỉnh một cách mạnh mẽ hơn, thưa đồng chí?

- Với mục tiêu đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế, việc thu hút đầu tư cần phải được tăng cường hơn nữa. Để thực hiện điều này, UBND tỉnh tập trung giải quyết 3 vấn đề. Đó là: Công tác quy hoạch (như đã nêu trên), xây dựng giá đất hợp lý và tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Riêng về cải cách thủ tục hành chính, sắp tới đây UBND tỉnh sẽ ban hành Quy định về trình tự, thủ tục và cơ chế phối hợp liên ngành trong giải quyết thủ tục đầu tư trên cơ sở khảo sát, đề xuất của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) và các cơ quan liên quan của tỉnh. Với Quy định mới này, thủ tục hành chính sẽ được minh bạch hóa hơn, được giải quyết nhanh gọn hơn và sẽ đem lại sự hài lòng hơn cho nhà đầu tư. Công tác xúc tiến đầu tư cũng sẽ được đẩy mạnh, hướng đến các nhà đầu tư thực sự có năng lực ở cả trong nước và nước ngoài; đồng thời sẽ có những ràng buộc để nhà đầu tư đăng ký gắn liền với triển khai dự án một cách có hiệu quả và có lợi cho cả đôi bên (nhà đầu tư và địa phương).

* Xin cảm ơn đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh!

* Tính từ khi thực hiện Luật Đầu tư mới đến hết năm 2009, trên địa bàn tỉnh có 229 dự án trong nước được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 33.496 tỉ đồng. Trong đó, Khu kinh tế Nhơn Hội có 26 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 18.112 tỉ đồng; các khu công nghiệp có 67 dự án với tổng vốn đăng ký 2.659 tỉ đồng; ngoài Khu kinh tế Nhơn Hội và các khu công nghiệp có 136 dự án với tổng vốn đăng ký 12.725 tỉ đồng.

* Đến hết năm 2009, Bình Định có 34 dự án FDI với tổng vốn đăng ký gần 471 triệu USD, gồm 28 dự án 100% vốn nước ngoài và 6 dự án liên doanh hoặc có góp vốn giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Thúy Vi – Ngọc Thái (Thực hiện)

Nguồn: http://www.baobinhdinh.com.vn/kinhte-phattrien/2010/1/86267/

Ngay trong những ngày đầu năm mới 2010, tỉnh ta đã tổ chức một sự kiện quan trọng và đầy ý nghĩa. Ngày 20.1, tại TP Quy Nhơn đã diễn ra Hội nghị xúc tiến đầu tư (XTĐT) vào Bình Định năm 2010. Hội nghị đã thành công tốt đẹp, mang lại những triển vọng to lớn, tạo động lực cho công cuộc phát triển KTXH tỉnh nhà…

Dong lai

Lễ ký kết giữa Công ty Khang Thông với nhà đầu tư Liên bang Nga đầu tư xây dựng khu phi thuế quan (KKT Nhơn Hội). Ảnh: Văn Lưu

Hội nghị XTĐT vào Bình Định năm 2010 do UBND tỉnh phối hợp với Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương cùng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tổ chức. Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Hoàng Trung Hải – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ; Võ Đức Huy – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung ương; Đặng Huy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đại diện một số bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo một số tỉnh bạn; các hiệp hội DN, các nhà đầu tư đại diện cho các tập đoàn, tổng công ty, công ty trong và ngoài nước.

Về phía tỉnh, các đồng chí: Vũ Hoàng Hà – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Văn Thiện – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể và các huyện, thành phố trong tỉnh tham dự.

Dong lai
Quang cảnh Hội nghị.

* Tự tin mời gọi đầu tư

Diễn văn khai mạc Hội nghị của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Vũ Hoàng Hà đã nêu rõ: Bình Định có vị trí quan trọng trong giao lưu khu vực và quốc tế, có nhiều tiềm năng và điều kiện để trở thành cực phát triển phía Nam của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Trong những năm qua, Bình Định đã trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư, đã từng bước tạo dựng cho mình lợi thế cạnh tranh. Đó là: môi trường đầu tư thông thoáng, cởi mở với nhiều tiềm năng, cơ hội, cùng với cơ chế chính sách ưu đãi hợp lý, linh hoạt và thường xuyên đổi mới… Trong thời gian qua, tỉnh Bình Định đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, chương trình xúc tiến đầu tư ở trong nước cũng như ở nước ngoài để giới thiệu tiềm năng, cơ hội đầu tư, chính sách khuyến khích đầu tư vào tỉnh, mà trọng tâm là Khu Kinh tế Nhơn Hội (KKTNH), bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ.

Trong thời gian đến, Bình Định sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, tiếp tục thực hiện tốt cải cách hành chính; thực hiện đầy đủ chính sách ưu đãi đầu tư, tạo mọi điều kiện để các nhà đầu tư đến với Bình Định ngày càng hài lòng và an tâm hơn. Thông qua Hội nghị XTĐT lần này, Bình Định kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào Bình Định để cùng hợp tác phát triển.

Tại Hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Thiện đã giới thiệu những lợi thế về vị trí địa lý, tiềm năng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, cơ sở hạ tầng ngày càng được đầu tư xây dựng và phát triển của tỉnh nhà. Bên cạnh hoạt động phát triển KTXH, tỉnh còn quan tâm chú trọng công tác cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; nhờ đó chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Bình Định luôn thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. UBND tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động XTĐT trong và ngoài nước, thu hút được nhiều dự án đầu tư vào tỉnh. Hiện trên địa bàn tỉnh có 230 dự án trong nước được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) với tổng số vốn đăng ký 35.500 tỉ đồng; 34 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 430 triệu USD. Để đẩy mạnh thu hút đầu tư, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã xác định và đi trước một bước trong chuẩn bị hạ tầng cả kinh tế và xã hội, trong đó tập trung chuẩn bị mặt bằng cho các dự án đầu tư, nhất là KKTNH và các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Dong lai
BIDV cam kết tài trợ vốn cho các nhà đầu tư.

Với tiềm năng, lợi thế cùng sự chuẩn bị khá chu đáo, tại Hội nghị XTĐT này, UBND tỉnh công bố và mời gọi đầu tư vào 60 dự án và nhóm dự án với tổng vốn khoảng 141 ngàn tỉ đồng (tương đương 7,8 tỉ USD). Nhằm khuyến khích và hỗ trợ nhà đầu tư, Bình Định có các chính sách ưu đãi, thông thoáng; đồng thời không ngừng cải cách thủ tục hành chính và cung cách làm việc; hợp tác tốt với nhà đầu tư, xem thành công của doanh nghiệp và nhà đầu tư là lợi ích và thành công của chính mình. UBND tỉnh luôn hoan nghênh, ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp trong và ngoài nước tiến hành hợp tác đầu tư và kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

* Động lực mới cho sự phát triển

Các ý kiến, tham luận của các bộ, các tập đoàn, tổng công ty, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đều cho rằng Bình Định nói riêng và khu vực miền Trung nói chung là vùng phát triển kinh tế năng động, đang có bước chuyển mạnh mẽ theo hướng CNH, HĐH. Điều đó đã thể hiện qua việc những năm qua Bình Định đã có bước tiến dài trong quá trình đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính với mục tiêu tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, như thực hiện tốt cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”. Đại diện các bộ, ngành Trung ương bày tỏ sự quan tâm đến hoạt động XTĐT của Bình Định và cho biết trong thời gian đến sẽ phối hợp chặt chẽ với Bình Định trong chương trình XTĐT, công tác quy hoạch xây dựng cơ chế phối hợp trong vùng, các cơ chế chính sách thu hút đầu tư trong nước, ngoài nước, vốn đầu tư cho các chương trình trọng điểm… Các nhà đầu tư có mặt tại Hội nghị cũng hứa sẽ đến Bình Định và sẽ đầu tư các dự án, công trình lớn, nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lợi thế của tỉnh nhà.

Dong lai
Động thổ xây dựng Khu phi thuế quan (KKT Nhơn Hội). Ảnh: Văn Lưu

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã biểu dương sáng kiến phối hợp tổ chức Hội nghị XTĐT của tỉnh Bình Định, xem đây là một nội dung thực hiện có hiệu quả sự chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ với mục đích cùng hợp tác, đẩy mạnh phát triển kinh tế. Phó Thủ tướng cũng đã đánh giá cao sự nỗ lực rất lớn của các đồng chí lãnh đạo tỉnh về cải cách hành chính, đổi mới tư duy, quyết tâm làm giàu cho nhân dân, cho đất nước. Trong những năm gần đây, Bình Định đã vươn lên để trở thành một trong số các tỉnh có môi trường đầu tư tốt của cả nước, được cộng đồng doanh nghiệp tin tưởng, đánh giá cao về môi trường đầu tư.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu: Sau Hội nghị này, nhiệm vụ của các nhà đầu tư, của tỉnh Bình Định là phải triển khai ngay các bước tiếp theo để nội dung các văn bản ký kết, các dự án nhanh chóng trở thành hiện thực. Lãnh đạo tỉnh phải kiên quyết chỉ đạo quyết liệt trong việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư đã ký kết. Mỗi dự án cụ thể thành công là bằng chứng để chứng minh môi trường đầu tư cũng như thương hiệu đầu tư của tỉnh, giúp tỉnh nhanh chóng chuyển dịch nền kinh tế…

Tại Hội nghị, UBND tỉnh và Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh đã trao 13 GCNĐT với tổng số vốn đăng ký 13.090 tỉ đồng (tương đương 725,25 triệu USD) và ký kết thỏa thuận đầu tư 9 dự án với tổng vốn đăng ký 119.385 tỉ đồng (tương đương 6,631 tỉ USD). Tính chung, tại Hội nghị đã thu hút được 22 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 132,475 tỉ đồng (tương đương 7,36 tỉ USD); trong đó có 5 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 5,07 tỉ USD.

Tại Hội nghị, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã ký kết tài trợ đầu tư cho một số dự án đã cấp GCNĐT và vừa ký kết thỏa thuận đầu tư.

  • Thúy Vi – Ngọc Thái

Nguồn: http://www.baobinhdinh.com.vn/kinhte-phattrien/2010/1/86312/

Phát triển công nghiệp là một lựa chọn tất yếu của các địa phương nhằm thực hiện đường lối của Đảng là phấn đấu “đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp”. Và tỉnh Bình Định cũng không nằm ngoài sự lựa chọn đó. Bằng nhiều giải pháp thiết thực, công nghiệp Bình Định đang từng bước được khẳng định, chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.

Số liệu thống kê của Tỉnh ủy Bình Định mới đây cho biết, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh bình quân trong 3 năm qua ước tăng 22,2% (mục tiêu bình quân chung của cả nhiệm kỳ 2006-2010 là 24,5%); tỷ trọng ngành công nghiệp- xây dựng chiếm 31,7% (tính đến cuối năm 2008). Để đạt được kết quả đó, thời gian qua tỉnh Bình Định đã tập trung phát triển một số ngành công nghiệp có giá trị sản xuất và kim ngạch xuất khẩu lớn; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, mở rộng quy mô, năng lực sản xuất, phát triển các sản phẩm mới. Đặc biệt, tỉnh đã quy hoạch, phát triển một số khu công nghiệp, đồng thời ban hành một số chính sách khuyến khích kịp thời, thiết thực thu hút đầu tư vào các khu- cụm công nghiệp. Theo đó, đến nay tại hai khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh là Phú Tài và Long Mỹ (giai đoạn 1) đã lấp đầy 83% diện tích với 451 ha đất cho thuê; đã hoàn thành chi tiết và tiếp tục triển khai công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng để thi công hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp Long Mỹ giai đoạn 2 với khoảng 100 ha; triển khai quy hoạch khu công nghiệp Nhơn Hòa (huyện An Nhơn), khu công nghiệp Hòa Hội (huyện Phù Cát), cụm công nghiệp Cát Khánh và Cát Trinh (Phù Cát); đã có 19 cụm công nghiệp trên địa bàn đi vào hoạt động (trong đó có 11 cụm đã lấp đầy từ 90%-100% diện tích mặt bằng cho thuê. Riêng đối với khu kinh tế Nhơn Hội đến nay cơ bản cũng đã hoàn thành công tác quy hoạch chi tiết một số khu chức năng và đã có 25 dự án đăng ký đầu tư vào đây và đã có 18 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký 11.580 tỷ đồng, trong đó có 02 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký là 284 triệu USD.

Tuy nhiên trên thực tế, Bình Định chưa phải là tỉnh có nhiều tiềm năng và thế mạnh để thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp. Nhận thức rõ điều này nên nhiều năm qua tỉnh Bình Định đã có một chiến lược để đầu tư phát triển nền công nghiệp. Về vấn đề này, đồng chí Vũ Hoàng Hà – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định cho biết: Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã vận dụng sáng tạo có hiệu quả đường lối chỉ đạo của Đảng để đề ra chủ trương chính sách đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung chăm lo đầu tư, phát triển những ngành có thế mạnh và giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế- xã hội của tỉnh như chế biến nông, lâm, thủy sản, khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng, may mặc…phát triển công nghiệp gắn liền với ban hành nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm với thương hiệu có uy tín, không những được ưa chuộng trên thị trường cả nước mà còn phục vụ cho xuất khẩu như hải sản cấp đông, đá granit ốp lát, mộc dân dụng, dược phẩm…

Đặc biệt, trong quá trình triển khai chiến lược phát triển nền kinh tế công nghiệp của tỉnh, Bình Định luôn biết chú trọng khâu giới thiệu, quảng bá và kêu gọi đầu tư. Nhờ vậy, từ một địa phương rất khó khăn về hạ tầng kinh tế, nhất là kinh tế công nghiệp, đến nay diện mạo của một tỉnh có nhiều điểm nhấn về công nghiệp đã hình thành. Trong đó, khu kinh tế Nhơn Hội có thể được xem là “cú huých”, động mạch chủ để trái tim công nghiệp của tỉnh hoạt động ngày một mạnh mẽ. Theo đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Bình Định Vũ Hoàng Hà thì, ngay sau khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ thành lập khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh đã phối hợp với ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tổ chức một số hội thảo xúc tiến, kêu gọi đầu tư vào khu kinh tế này tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Cùng với đó, tỉnh cũng đã phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và các chủ đầu tư khu công nghiệp tổ chức gần 20 chuyến đi xúc tiến đầu tư tại Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Trung Quốc, Canada, Niu di lân và một số nước châu Âu khác; đã trực tiếp tiếp xúc với các tập đoàn kinh tế lớn như Hiệp hội Đầu tư Quốc tế Hồng Kông, với nhiều nhà đầu tư Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản để giới thiệu, quảng bá và ký biên bản ghi nhớ đăng ký đầu tư vào khu kinh tế Nhơn Hội. Qua các hoạt động này, nhiều nước và vùng lãnh thổ đã đến Nhơn Hội khảo sát, tìm hiểu cơ hội đầu tư.

Về phía các khu- cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định, với khả năng nhạy bén và chủ động trong làm ăn đã nhanh chóng tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến, thu hút mời gọi đầu tư thông qua các hội chợ, hội thảo và trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài tỉnh cũng như nước ngoài. Nhờ vậy, đến nay toàn tỉnh đã thu hút 439 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất có quy mô vừa và nhỏ tham gia đầu tư, được giao đất xây dựng nhà xưởng sản xuất với diện tích gần 230 ha, có tổng vốn đầu tư 1.367 tỷ đồng, trong đó đã có 397 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất đã đi vào hoạt động.

Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Bình Định năm 2010

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đầu tư trong cụm công nghiệp đang có chiều hướng ngày càng phát triển, sản xuất tiêu thụ chủ yếu ở thị trường trong nước và một phần xuất khẩu. Tuy nhiên, theo đồng chí Vũ Hoàng Hà- Bí thư Tỉnh ủy Bình Định thì: trong thời gian vừa qua, các doanh nghiệp trong cụm công nghiệp bị ảnh hưởng bởi suy giảm kinh tế nên chủ đầu tư các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa chưa có kế hoạch đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tiếp theo. Các cụm công nghiệp tại thành phố Quy Nhơn và các huyện Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tây Sơn diện tích lấp đầy tương đối nhanh, nhưng các cụm công nghiệp ở 3 huyện miền núi và các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn do xa cảng biển, giao thông không thuận lợi nên sức thu hút thấp (hầu hết tỷ lệ lấp đầy dưới 30%). Trong khi đó, từ năm 2007, Bình Định cũng đã triển khai thực hiện dự án các cụm công nghiệp Tà Súc, thị trấn Vân Canh, Canh Vinh và đã có hơn 20 doanh nghiệp đăng ký đầu tư nhưng đến nay chưa nhận được đất để xây dựng nhà xưởng sản xuất.

Có thể nói, với một tỉnh còn nhiều khó khăn như Bình Định, những chuyển biến về công nghiệp của địa phương mà trên vừa dẫn là một cuộc bức phá lớn, cần tiếp tục được nghiên cứu, phát huy. Đây cũng có thể được xem là mô hình, cách làm có hiệu quả đối với nhiều địa phương khác trong cả nước. Tuy nhiên về lâu dài, Bình Định còn phải nỗ lực nhiều hơn nữa, trong đó việc phát huy nội lực, sự năng động, nhạy bén trong chiến lược điều hành, phát triển của các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức, doanh nghiệp và người dân là rất quan trọng; cùng với đó, sự giúp đỡ, hỗ trợ của Trung ương, các tổ chức, tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước, đặc biệt là hoạt động của các nhà đầu tư trên địa bàn sẽ là căn cứ, cơ sở để nền kinh tế công nghiệp tỉnh Bình Định tiếp tục vươn lên. Muốn thực hiện được điều này, Bình Định cần phải đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động quy hoạch, thu hút đầu tư, tăng cường quảng bá và xúc tiến thương mại, quan tâm đầu tư tạo nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, đẩy mạnh cải cách hành chính, khắc phục các tiêu cực, nhũng nhiễu, tạo mọi điều kiện để nhà đầu tư yêu tâm làm ăn, đóng góp cho tỉnh./.

Nguồn: http://www.baomoi.com/Info/Binh-Dinh-nhieu-giai-phap-de-phat-trien-cong-nghiep/45/3849696.epi

Phát triển công nghiệp là một lựa chọn tất yếu của các địa phương nhằm thực hiện đường lối của Đảng là phấn đấu “đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp”. Và tỉnh Bình Định cũng không nằm ngoài sự lựa chọn đó. Bằng nhiều giải pháp thiết thực, công nghiệp Bình Định đang từng bước được khẳng định, chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.

Số liệu thống kê của Tỉnh ủy Bình Định mới đây cho biết, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh bình quân trong 3 năm qua ước tăng 22,2% (mục tiêu bình quân chung của cả nhiệm kỳ 2006-2010 là 24,5%); tỷ trọng ngành công nghiệp- xây dựng chiếm 31,7% (tính đến cuối năm 2008). Để đạt được kết quả đó, thời gian qua tỉnh Bình Định đã tập trung phát triển một số ngành công nghiệp có giá trị sản xuất và kim ngạch xuất khẩu lớn; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, mở rộng quy mô, năng lực sản xuất, phát triển các sản phẩm mới. Đặc biệt, tỉnh đã quy hoạch, phát triển một số khu công nghiệp, đồng thời ban hành một số chính sách khuyến khích kịp thời, thiết thực thu hút đầu tư vào các khu- cụm công nghiệp. Theo đó, đến nay tại hai khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh là Phú Tài và Long Mỹ (giai đoạn 1) đã lấp đầy 83% diện tích với 451 ha đất cho thuê; đã hoàn thành chi tiết và tiếp tục triển khai công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng để thi công hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp Long Mỹ giai đoạn 2 với khoảng 100 ha; triển khai quy hoạch khu công nghiệp Nhơn Hòa (huyện An Nhơn), khu công nghiệp Hòa Hội (huyện Phù Cát), cụm công nghiệp Cát Khánh và Cát Trinh (Phù Cát); đã có 19 cụm công nghiệp trên địa bàn đi vào hoạt động (trong đó có 11 cụm đã lấp đầy từ 90%-100% diện tích mặt bằng cho thuê. Riêng đối với khu kinh tế Nhơn Hội đến nay cơ bản cũng đã hoàn thành công tác quy hoạch chi tiết một số khu chức năng và đã có 25 dự án đăng ký đầu tư vào đây và đã có 18 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký 11.580 tỷ đồng, trong đó có 02 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký là 284 triệu USD.

Tuy nhiên trên thực tế, Bình Định chưa phải là tỉnh có nhiều tiềm năng và thế mạnh để thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp. Nhận thức rõ điều này nên nhiều năm qua tỉnh Bình Định đã có một chiến lược để đầu tư phát triển nền công nghiệp. Về vấn đề này, đồng chí Vũ Hoàng Hà – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định cho biết: Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã vận dụng sáng tạo có hiệu quả đường lối chỉ đạo của Đảng để đề ra chủ trương chính sách đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung chăm lo đầu tư, phát triển những ngành có thế mạnh và giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế- xã hội của tỉnh như chế biến nông, lâm, thủy sản, khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng, may mặc…phát triển công nghiệp gắn liền với ban hành nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm với thương hiệu có uy tín, không những được ưa chuộng trên thị trường cả nước mà còn phục vụ cho xuất khẩu như hải sản cấp đông, đá granit ốp lát, mộc dân dụng, dược phẩm…

Đặc biệt, trong quá trình triển khai chiến lược phát triển nền kinh tế công nghiệp của tỉnh, Bình Định luôn biết chú trọng khâu giới thiệu, quảng bá và kêu gọi đầu tư. Nhờ vậy, từ một địa phương rất khó khăn về hạ tầng kinh tế, nhất là kinh tế công nghiệp, đến nay diện mạo của một tỉnh có nhiều điểm nhấn về công nghiệp đã hình thành. Trong đó, khu kinh tế Nhơn Hội có thể được xem là “cú huých”, động mạch chủ để trái tim công nghiệp của tỉnh hoạt động ngày một mạnh mẽ. Theo đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Bình Định Vũ Hoàng Hà thì, ngay sau khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ thành lập khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh đã phối hợp với ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tổ chức một số hội thảo xúc tiến, kêu gọi đầu tư vào khu kinh tế này tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Cùng với đó, tỉnh cũng đã phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và các chủ đầu tư khu công nghiệp tổ chức gần 20 chuyến đi xúc tiến đầu tư tại Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Trung Quốc, Canada, Niu di lân và một số nước châu Âu khác; đã trực tiếp tiếp xúc với các tập đoàn kinh tế lớn như Hiệp hội Đầu tư Quốc tế Hồng Kông, với nhiều nhà đầu tư Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản để giới thiệu, quảng bá và ký biên bản ghi nhớ đăng ký đầu tư vào khu kinh tế Nhơn Hội. Qua các hoạt động này, nhiều nước và vùng lãnh thổ đã đến Nhơn Hội khảo sát, tìm hiểu cơ hội đầu tư.

Về phía các khu- cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định, với khả năng nhạy bén và chủ động trong làm ăn đã nhanh chóng tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến, thu hút mời gọi đầu tư thông qua các hội chợ, hội thảo và trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài tỉnh cũng như nước ngoài. Nhờ vậy, đến nay toàn tỉnh đã thu hút 439 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất có quy mô vừa và nhỏ tham gia đầu tư, được giao đất xây dựng nhà xưởng sản xuất với diện tích gần 230 ha, có tổng vốn đầu tư 1.367 tỷ đồng, trong đó đã có 397 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất đã đi vào hoạt động.

Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Bình Định năm 2010

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đầu tư trong cụm công nghiệp đang có chiều hướng ngày càng phát triển, sản xuất tiêu thụ chủ yếu ở thị trường trong nước và một phần xuất khẩu. Tuy nhiên, theo đồng chí Vũ Hoàng Hà- Bí thư Tỉnh ủy Bình Định thì: trong thời gian vừa qua, các doanh nghiệp trong cụm công nghiệp bị ảnh hưởng bởi suy giảm kinh tế nên chủ đầu tư các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa chưa có kế hoạch đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tiếp theo. Các cụm công nghiệp tại thành phố Quy Nhơn và các huyện Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tây Sơn diện tích lấp đầy tương đối nhanh, nhưng các cụm công nghiệp ở 3 huyện miền núi và các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn do xa cảng biển, giao thông không thuận lợi nên sức thu hút thấp (hầu hết tỷ lệ lấp đầy dưới 30%). Trong khi đó, từ năm 2007, Bình Định cũng đã triển khai thực hiện dự án các cụm công nghiệp Tà Súc, thị trấn Vân Canh, Canh Vinh và đã có hơn 20 doanh nghiệp đăng ký đầu tư nhưng đến nay chưa nhận được đất để xây dựng nhà xưởng sản xuất.

Có thể nói, với một tỉnh còn nhiều khó khăn như Bình Định, những chuyển biến về công nghiệp của địa phương mà trên vừa dẫn là một cuộc bức phá lớn, cần tiếp tục được nghiên cứu, phát huy. Đây cũng có thể được xem là mô hình, cách làm có hiệu quả đối với nhiều địa phương khác trong cả nước. Tuy nhiên về lâu dài, Bình Định còn phải nỗ lực nhiều hơn nữa, trong đó việc phát huy nội lực, sự năng động, nhạy bén trong chiến lược điều hành, phát triển của các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức, doanh nghiệp và người dân là rất quan trọng; cùng với đó, sự giúp đỡ, hỗ trợ của Trung ương, các tổ chức, tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước, đặc biệt là hoạt động của các nhà đầu tư trên địa bàn sẽ là căn cứ, cơ sở để nền kinh tế công nghiệp tỉnh Bình Định tiếp tục vươn lên. Muốn thực hiện được điều này, Bình Định cần phải đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động quy hoạch, thu hút đầu tư, tăng cường quảng bá và xúc tiến thương mại, quan tâm đầu tư tạo nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, đẩy mạnh cải cách hành chính, khắc phục các tiêu cực, nhũng nhiễu, tạo mọi điều kiện để nhà đầu tư yêu tâm làm ăn, đóng góp cho tỉnh./.

Nguồn: http://www.baomoi.com/Info/Binh-Dinh-nhieu-giai-phap-de-phat-trien-cong-nghiep/45/3849696.epi

Ngày 08/06/2010, Đảng bộ Khu kinh tế tỉnh Bình Định (KKT) đã tổ chức Đại hội đảng viên nhằm đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại Hội nhiệm kỳ I, đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ II (2010 – 2015); tham gia ý kiến đóng góp vào các dự thảo văn kiện của cấp trên và bầu Ban chấp hành nhiệm kỳ khóa mới.

Toàn cảnh Đại hội

Toàn cảnh Đại hội

Tham dự Đại hội có Đ/c Huỳnh Đức Trị – Bí thư và các đ/c ủy viên Thường vụ Đảng uỷ Dân chính đảng, Lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh, các đ/c trong Ban Thường vụ, Ban chấp hành và toàn thể đảng viên của Đảng bộ KKT.

Nhiệm kỳ 2005 – 2010, tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức như suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới từ giữa năm 2008 và 2009 ; tình hình trong nước có lúc lạm phát, giá cả nguyên, nhiên, vật liệu tăng cao, đầu ra sản phẩm gặp khó khăn và thiệt hại nặng do bão lụt đã ảnh hưởng không tốt đến hoạt động đầu tư, xây dựng Khu kinh tế, Khu công nghiệp. Nhưng được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Dân chính Đảng, sự phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của  các sở, ban ngành và địa phương liên quan, tập thể đảng viên toàn Đảng bộ KKT đã tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu trong công tác và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Đã lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, các công tác xây dựng hạ tầng kỹ thuật, thu hút đầu tư, hoạt động của các doanh nghiệp đều bám sát mục tiêu, chỉ tiêu theo Nghị quyết của Đảng bộ đề ra. Công tác xây dựng Đảng cũng đã được thực hiện tốt, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu theo Nghị quyết, nổi bật là công tác kết nạp đảng viên và phát triển tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; công tác lãnh đạo đoàn thể quần chúng đã được quan tâm kiện toàn tổ chức và bước đầu hoạt động có kết quả.

Về phương hướng, mục tiêu chung của Đảng bộ nhiệm kỳ 2010-2015, Đại hội đã xác định là:  Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị; đẩy mạnh thực hiện thu hút đầu tư, nhất là những dự án có hàm lượng công nghệ cao nhằm tạo nền tảng cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đẩy nhanh quá trình tăng trưởng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhằm góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp và kinh tế của tỉnh. Cơ bản hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng Khu kinh tế Nhơn Hội và các Khu công nghiệp đã thành lập; cơ bản hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu Khu kinh tế và các khu công nghiệp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với Khu kinh tế và các khu công nghiệp. Tăng cường công tác quản lý môi trường, đẩy mạnh hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động. Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, xây dựng đoàn thể vững mạnh; nâng cao chất lượng hoạt động của các Chi bộ đảng. Tập trung nhiệm vụ phát triển đảng viên và tổ chức đảng trong khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, phấn đấu xây dựng tổ chức Đảng trực thuộc từ 18 đến 22 Chi bộ, kết nạp mới tối thiểu 55 đảng viên, nâng tổng số đảng viên của toàn Đảng bộ lên từ 145 – 150 người.

BCH Đảng bộ KKT nhiệm kỳ 2010-2015 ra mắt Đại hội

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ KKT nhiệm kỳ II gồm 13 đồng chí và tại phiên họp lần thứ nhất của Ban chấp hành khóa mới, đ/c Man Ngọc Lý, Trưởng Ban Quản lý, được tái cử chức vụ Bí thư Đảng ủy nhiệm kỳ 2010-2015.

ND – Văn phòng Ban Quản lý Khu kinh tế

Nguồn: http://kktbinhdinh.vn/

Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế – xã hội toàn quốc, Nghị quyết của Bộ Chính trị;Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giao thông – Vận tải (GTVT) đã xây dựng chiến lược, định hướng phát triển các công trình giao thông trên địa bàn Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và chỉ đạo các chủ đầu tư đẩy mạnh việc triển khai các quy hoạch ngành đã được phê duyệt.

Cảng Hàng không Phù Cát (Bình Định) sẽ được nâng cấp để đáp ứng nhu cầu khách ngày càng tăng

Cảng Hàng không Phù Cát (Bình Định) sẽ được nâng cấp để đáp ứng nhu cầu khách ngày càng tăng

Theo đó, đối với lĩnh vực đường bộ, sau khi hoàn thành nâng cấp Quốc lộ 1 đi qua khu vực với quy mô 2 làn xe bằng nguồn vốn của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Bộ GTVT đã yêu cầu Tổng cục Đường bộ Việt Nam tiếp tục triển khai đầu tư, nâng cấp đoạn La Sơn – Lăng Cô và 2 hầm đường bộ Phú Gia, Phước Tượng có chiều dài 51 km, quy mô xây dựng theo tiêu chuẩn đường cấp II, 4 làn xe, tổng mức đầu tư khoảng 2.000 tỷ đồng. Đối với 2 dự án này, Bộ GTVT đang thẩm định để phê duyệt đề xuất dự án.

Bộ GTVT cũng đẩy mạnh công tác chuẩn bị, xúc tiến đầu tư 2 dự án xây dựng đường bộ cao tốc trong vùng. Trong đó, Dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi có tổng mức đầu tư 26.367 tỷ đồng (1.555 triệu USD – vốn vay WB và JBIC), đã lập xong dự án đầu tư, đang tuyển chọn tư vấn để cập nhật Dự án. Đường cao tốc Quảng Ngãi – Quy Nhơn dài 180 km, 4-6 làn xe, với tổng mức đầu tư 1.562 triệu USD (Bộ GTVT đang lập đề xuất dự án đầu tư theo hình thức BOT và lập dự án để huy động vốn ngân sách, nếu không đầu tư theo hình thức BOT).

Đối với đường Hồ Chí Minh đoạn qua địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế đến Quảng Nam và các công trình tính vào giai đoạn I (Quốc lộ 14B đoạn Hòa Cầm – Thạnh Mỹ, tuyến tránh Huế), hiện chủ đầu tư Dự án đang tiến hành xử lý bền vững hóa công trình do mưa lũ gây ra. Riêng đoạn Cam Lộ (Quảng Trị) – Túy Loan (Đà Nẵng) dài 205 km, quy mô 4 – 6 làn xe, tổng mức đầu tư khoảng 14.000 tỷ đồng, Bộ GTVT đang tiến hành kiểm tra năng lực của nhà đầu tư theo hình thức BT để báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Đối với lĩnh vực đường sắt, trong điều kiện ngân sách nhà nước khó khăn, chưa có vốn để đầu tư nâng cấp các tuyến đường sắt trong vùng, ngành đường sắt đã tăng nguồn vốn sự nghiệp kinh tế cho công tác bảo trì, nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng chạy tàu. Hiện Bộ GTVT đang nâng cấp, cải tạo tuyến đường sắt Thống Nhất Hà Nội – TP.HCM thông qua 20 dự án, đầu tư từ nguồn vốn ngân sách và ODA. Đường sắt cao tốc Bắc – Nam do  Tổng công ty Đường sắt Việt Nam làm chủ đầu tư đã hoàn thành Báo cáo đầu tư trình Quốc hội phê duyệt.

Trong lĩnh vực đường thủy, bên cạnh cảng Đà Nẵng, Tiên Sa có năng lực tiếp nhận tàu 30.000 DWT, năng lực hàng hóa thông qua 2,5 triệu tấn/năm, đã hoàn thành việc xây dựng năm 2006, Bộ GTVT vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ bổ sung quy hoạch nhóm cảng khu vực Thọ Quang – bán đảo Sơn Trà cho tàu tổng hợp, container đến 50.000 DWT vào quy hoạch tổng thể.

Đối với Cảng Dung Quất – Quảng Ngãi, hiện đã được Cục Hàng hải Việt Nam quy hoạch là cảng chuyên dùng và tổng hợp quốc gia đầu mối khu vực, có vai trò là động lực phát triển Khu kinh tế Dung Quất. Bộ GTVT đã cập nhật Cảng Dung Quất – Quảng Ngãi vào Quy hoạch Phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, định hướng năm 2030.

Trong lĩnh vực hàng không, Bộ GTVT đang triển khai các dự án lớn gồm: Dự án Xây dựng nhà ga hành khách quốc tế Sân bay Đà Nẵng với tổng mức đầu tư 1.345 tỷ đồng (khởi công từ năm 2007, dự kiến hoàn thành năm 2010); Dự án Kéo dài, nâng cấp đường hạ cất cánh 35R/17L – Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng với quy mô đáp ứng máy bay B747, tổng mức đầu tư 727 tỷ đồng (khởi công từ năm 2008 và sẽ hoàn thành trong năm nay).

Theo đề án Quy hoạch Cảng hàng không Chu Lai đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, quy mô Cảng hàng không Chu Lai đến năm 2015 là 2 triệu hành khách/năm, 1,5 triệu tấn hàng/năm và đến năm 2025 lên 4 triệu hành khách/năm, 5 triệu tấn hàng/năm. Để có nguồn vốn đầu tư xây dựng Cảng hàng không Chu Lai trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa quốc tế, Bộ GTVT ủng hộ chủ trương kêu gọi các nhà đầu tư tham gia đầu tư.

Đối với Cảng Hàng không Phù Cát đã được nâng cấp các công trình đường lăn, sân đỗ MB, nhà ga hành khách có thể tiếp nhận loại máy bay A320, A321 vào năm 2004. Hiện Bộ GTVT đã phê duyệt Dự án đầu tư hệ thống đèn phục vụ bay đêm, với tổng mức đầu tư 30 tỷ đồng.

Nguyễn Hữu Thắng * Phó vụ trưởng Vụ Kế hoạch đầu tư (Bộ Giao thông – Vận tải)

Nguồn: http://kktbinhdinh.vn/

Lâu nay, do việc khai thác, đánh bắt quá mức, nên nguồn lợi thủy sản tại các đầm nước lợ ở tỉnh ta bị cạn kiệt. Để bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản này, từ năm 2009, Hiệp hội Thủy sản (HHTS) tỉnh đã triển khai xây dựng mô hình người dân tự quản lý, khai thác một cách hợp lý nguồn lợi thủy sản của 2 đầm Thị Nại và Trà Ổ.

Dong lai
Rừng ngập mặn ở đầm Thị Nại đã lên xanh. Ảnh: Hoàng Song

Đầm Trà Ổ và Thị Nại có nhiều loài thủy đặc sản quý giá. Theo một số đề tài điều tra, nghiên cứu trước đây, đầm Trà Ổ có 30 loài cá, ngoài cá nước ngọt: chép, trê, rô, sặc… còn có cá nước lợ: đối, dìa, chim… Đặc biệt, đầm Trà Ổ vốn rất nổi tiếng về chình mun và chình bông. Còn đầm Thị Nại có nhiều loài tôm cá nước ngọt, nước lợ, cua biển, hàu, ốc… Sự phong phú về nguồn lợi thủy sản này đã nuôi sống một bộ phận dân cư ven đầm trong một thời gian dài. Tuy vậy, mấy năm gần đây, do hoạt động khai thác thủy sản bằng nghề cấm phát triển mạnh đã làm cho nguồn lợi thủy sản ở 2 đầm này ngày càng cạn kiệt.

Trước thực trạng này, năm 2009, HHTS tỉnh đã triển khai xây dựng mô hình người dân tự bảo vệ, khai thác một cách hợp lý nguồn lợi của đầm Thị Nại và Trà Ổ. Sau một năm thực hiện, HHTS và ngành Nông nghiệp tỉnh đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tập huấn và tuyên truyền đến các hộ dân sống quanh khu vực 2 đầm về cách bảo quản, khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản. Cụ thể, đối với đầm Thị Nại, đã tiến hành tập huấn cho dân trồng rừng ngập mặn, xây dựng vườn ươm cây ngập mặn, phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững… Đối với đầm Trà Ổ, các ngành chức năng cũng đã tiến hành tập huấn cho người dân cách nuôi cá chình, cá bống tượng… Hàng năm, với sự đóng góp của ngư dân và các doanh nghiệp, ngành Nông nghiệp tỉnh đã tiến hành thả cá giống tái tạo nguồn lợi thủy sản trên đầm Trà Ổ. Bên cạnh đó, hiện UBND huyện Tuy Phước cũng đã thống nhất đề cương xây dựng mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản đầm Thị Nại… Thông qua mô hình này, sẽ thành lập các nhóm hạt nhân để bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong đầm.

Bà Mai Kim Thi – Phó Chi cục trưởng Chi cục Khai thác và BVNLTS tỉnh, cho biết: Qua 1 năm triển khai mô hình người dân tự quản lý, khai thác một cách hợp lý nguồn lợi thủy sản của 2 đầm Thị Nại và Trà Ổ, bước đầu đã đem lại kết quả khả quan. Hiện ý thức về bảo vệ nguồn lợi thủy sản của người dân ven đầm đã được nâng cao hơn trước. Khi người dân ý thức được vấn đề này và đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình thì nguồn lợi thủy sản trong đầm sẽ dần được phục hồi.

Hoàng Lân

Nguồn: www.baobinhdinh.com.vn

Đăng ký nhãn hiệu tập thể bị vướng vì đã có một doanh nghiệp đăng ký trước.

Những gia đình sản xuất rượu Bàu Đá truyền thống ở làng Bàu Đá, thôn Cù Lâm Bắc, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn (Bình Định) đang tiếp tục kiến nghị các cơ quan chức năng can thiệp để lấy lại thương hiệu rượu Bàu Đá do Công ty TNHH Thực phẩm Minh Anh sở hữu gần 10 năm nay. Công ty này có trụ sở tại Đà Nẵng và có cơ sở sản xuất tại Bình Định.

“Loạn” nhãn hiệu
Hiện nay, đi dọc quốc lộ 1A đoạn qua tỉnh Bình Định, hầu như nơi nào cũng trưng bán rượu Bàu Đá. Tại tỉnh Bình Định còn có đến hàng trăm cơ sở kinh doanh rượu, họ vô tư đóng chai, dán nhãn hiệu Bàu Đá.

Ông Lê Hồng Thanh, chủ của một trong những gia đình nấu rượu Bàu Đá lâu đời nhất ở Cù Lâm Bắc, nói: “Hiện nay ở Cù Lâm Bắc còn 32 hộ nấu rượu Bàu Đá. Gia đình tôi là một trong những hộ nấu nhiều nhất nhưng mỗi ngày cao nhất cũng chỉ nấu được 30 lít rượu theo đúng công thức truyền thống, còn lại trung bình mỗi hộ chỉ 20 lít. Thế nhưng không biết họ lấy đâu ra mà chỗ nào cũng có rượu Bàu Đá”.

Nhiều người ở làng Bàu Đá cho biết phần lớn cơ sở bán rượu Bàu Đá ở Bình Định hiện nay không lấy rượu tại làng này mà chủ yếu họ mua các loại rượu gạo bình thường, giá chỉ bằng một nửa so với rượu Bàu Đá rồi đóng chai, dán nhãn, tung ra thị trường. Hiện nay rượu Bàu Đá tại thôn Cù Lâm Bắc bán tại chỗ với giá 13.000-15.000 đồng/lít. Trong khi đó, các loại rượu trôi nổi chỉ 6.000-8.000 đồng/lít. Do đó, người ta đua nhau mua các loại rượu trôi nổi này rồi dán nhãn Bàu Đá, bán với giá còn cao hơn cả rượu do người dân Bàu Đá chưng cất.

Dọc quốc lộ 1A đoạn qua tỉnh Bình Định có đến hàng trăm cơ sở bán rượu dán nhãn Bàu Đá. Ảnh: UYÊN THU


Vợ ông Thanh cho biết thêm: “Do thị trường có nhu cầu lớn, nhiều người chạy theo lợi nhuận đã sử dụng men bột Trung Quốc để nấu được nhiều rượu hơn men truyền thống. Tuy nhiên, họ vẫn cứ vô tư dán nhãn Bàu Đá rồi bán đi khắp nơi. Không chỉ khách phương xa mà ngay cả nhiều người dân Bình Định cũng rất khó phân biệt rượu thật và giả”.

Chưa có hướng giải quyết
Cuộc chiến đòi lại thương hiệu của người dân thôn Cù Lâm Bắc với sự trợ giúp của các cơ quan chức năng tỉnh Bình Định diễn ra dai dẳng hơn chín năm nay và càng ngày càng rối.

Sau nhiều năm đòi lại thương hiệu Bàu Đá từ Công ty Minh Anh không có kết quả, năm 2007 tỉnh Bình Định đã thành lập Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh rượu Bàu Đá để đơn vị này làm đại diện pháp nhân đứng ra đăng ký nhãn hiệu tập thể cho rượu Bàu Đá.

Bà Trần Thị Thu Hà, Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Bình Định, cho biết để hỗ trợ hiệp hội này, UBND tỉnh Bình Định đã nhiều lần có công văn đề nghị Bộ Khoa học Công nghệ hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa rượu Bàu Đá của Công ty Minh Anh. Đồng thời, tỉnh cũng hỗ trợ xác lập bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tập thể cho thương hiệu rượu Bàu Đá. Tại nhiều buổi làm việc giữa lãnh đạo tỉnh Bình Định và Bộ Khoa học Công nghệ, lãnh đạo bộ này đã hứa hỗ trợ việc đăng ký nhãn hiệu tập thể và giao Cục Sở hữu trí tuệ giải quyết dứt điểm vụ việc. Tuy nhiên, đến nay Cục Sở hữu trí tuệ vẫn chưa có hướng giải quyết cụ thể.

Theo ông Lê Quang Tâm, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh rượu Bàu Đá, cuối năm 2007 Hiệp hội và Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Bình Định đã gửi hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể Bàu Đá và đã được Cục Sở hữu trí tuệ chấp nhận đơn hợp lệ.

Cũng theo ông Tâm, Cục Sở hữu trí tuệ đã đề nghị Công ty Minh Anh gia nhập Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh rượu Bàu Đá nhưng công ty này đã từ chối. Trước tình hình này, Cục Sở hữu trí tuệ có công văn nêu rõ: “Công ty Minh Anh có trách nhiệm tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu rượu Bàu Đá theo giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 6137493 cho Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh rượu Bàu Đá tỉnh Bình Định để làm thủ tục đề nghị Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể”.

Tuy nhiên, công ty này vẫn không chấp nhận chuyển giao. Tại buổi làm việc lần cuối cùng giữa các bên để quyết định giải quyết việc tranh chấp thương hiệu rượu Bàu Đá do Cục Sở hữu trí tuệ (Văn phòng 3 tại Đà Nẵng) tổ chức mới đây, lãnh đạo Công ty Minh Anh kiên quyết không ký vào biên bản.

Không thương lượng đươc thì phải thêm dấu hiệu phân biệt
Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Trần Việt Hùng cho biết trước đây Công ty Minh Anh (Đà Nẵng) được tỉnh Bình Định chấp thuận cho mở xưởng sản xuất tại khu vực Bàu Đá và kết hợp với một số cơ sở sản xuất tại địa phương để phát triển nhãn hiệu rượu này. Trên cơ sở đó mà công ty này đã đăng ký nhãn hiệu rượu “Bàu Đá Minh Anh”. Cục cũng đã xem xét giải quyết hồ sơ này theo đúng quy định.

Sau đó, Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh rượu Bàu Đá Bình Định ra đời và đăng ký nhãn hiệu tập thể rượu Bàu Đá. Đây cũng là quyền lợi chính đáng của hiệp hội.
Tuy nhiên do Công ty Minh Anh đã đăng ký trước nên có lấn cấn pháp lý phát sinh cho việc đăng ký của hiệp hội. Cục không thể yêu cầu Công ty Minh Anh từ bỏ nhãn hiệu vì quy trình đăng ký trước đây của họ là hoàn toàn phù hợp pháp luật. Do đó, muốn giải quyết vấn đề này thì hiệp hội và Công ty Minh Anh cần ngồi lại thỏa thuận với nhau.

Hai bên chưa thỏa thuận được nên đến nay vẫn chưa thể giải quyết xong vụ việc này. Mới đây, Cục cũng gợi ý một phương án giải quyết là hiệp hội nên đưa thêm dấu hiệu phân biệt vào nhãn hiệu tập thể của mình để phân biệt với Bàu Đá Minh Anh. Đây cũng là cách thường được áp dụng trong giải quyết tranh chấp về nhãn hiệu.

Nếu địa danh đã được một doanh nghiệp nhanh chân đăng ký bảo hộ là nhãn hiệu riêng của mình và doanh nghiệp đã sử dụng rộng rãi nhãn hiệu này thì việc bảo hộ dưới hình thức khác (nhãn hiệu tập thể/chỉ dẫn địa lý) chỉ có thể thực hiện được nếu doanh nghiệp đó đồng ý. Người dân địa phương và chính quyền địa phương có thể thỏa thuận với doanh nghiệp để doanh nghiệp chuyển giao nhãn hiệu cho cộng đồng.

QUỲNH NHƯ - TẤN LỘC – UYÊN THU

Nguồn: http://phapluattp.vn/2010060911179872p0c1014/binh-dinh-doi-lai-thuong-hieu-ruou-bau-da.htm

Đăng bởi: lehobac | 10/06/2010

Dấu ấn Tây Sơn trong làng gốm Bát Tràng

Nơi lưu giữ khá nhiều chứng tích thời Tây Sơn lại không chỉ là Bình Định – quê hương Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ, mà là nhiều địa phương phía bắc như Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây (cũ)…
Trong đó, có làng gốm Bát Tràng – một gạch nối thú vị giữa đất võ Bình Định và đất văn Thăng Long – Hà Nội, nhân dịp mừng đại lễ nghìn năm.

Kỳ tích của làng

Hành trình tìm kiếm với sự tham gia của các nhà khoa học, các chuyên gia bảo tàng cùng chính quyền và nhân dân xã Bát Tràng (Gia Lâm – Hà Nội) đã đưa đến hy vọng: Có thể phục dựng lại những cổ vật thời Tây Sơn, trên cơ sở những hiện vật tới nay vẫn còn lưu giữ được. Trong đó, đáng kể nhất là 16 bản sắc phong mà các đời vua thuộc vương triều Tây Sơn đã phong cho thành hoàng làng Bát Tràng.

Với bất kỳ triều đại phong kiến nào, những bản sắc phong cũng luôn được coi là những hiện vật gốc, mang trên mình nó nhiều dữ liệu văn hóa – lịch sử. Riêng với Tây Sơn – một triều đại từng bị nhà Nguyễn Gia Long sau đó ra sức tìm cách tận diệt, thì câu chuyện bảo tồn hiện vật còn hàm chứa một ý nghĩa khác: Sức sống của triều đại Tây Sơn trong lòng dân, ngay cả khi nó đã chấm dứt vai trò lịch sử. “Để giữ gìn hiện vật, các bậc tiền nhân của làng chúng tôi đã từng phải đem chôn dưới cát” – cụ Lê Thanh Lợi – Trưởng làng Bát Tràng – cho hay. Không chỉ lòng dân, đó đôi khi còn là ý trời.

Ông Phạm Văn Mai – người làng Bát Tràng – kể: “Năm 1967, khi Mỹ ném bom cầu phao Thiên Lương, đã có một quả bom rơi ngay sát đình làng Bát Tràng – nơi lưu giữ 44 đạo sắc phong mà các triều đại phong kiến đã phong cho thành hoàng làng Bát Tràng, trong đó có 16 đạo sắc phong triều Tây Sơn (riêng đời Vua Quang Trung có 6 sắc, đều vào năm 1792). Nhưng may thay, quả bom đã không phát nổ!”. Đến năm 1970, đình làng bị dỡ bỏ, 44 sắc phong cùng các cổ vật khác của làng đã phải gửi vào nhà dân.

“ Suốt hai mươi mấy năm làng không còn đình, cộng với trước đó là chính sách tìm và trả thù của nhà Gia Long với Tây Sơn, vậy mà cho đến nay, người dân quê tôi vẫn còn giữ được những cổ vật ấy – đó có thể coi là một kỳ tích của làng, là lòng dân Bát Tràng với triều đại Tây Sơn và người anh hùng áo vải…” – ông Phạm Văn Mai tự hào.

Từ kỳ tích này, các con cháu đời nay của làng gốm đã gửi tặng tỉnh Bình Định hai tờ sắc phong thời Tây Sơn và 5 mẫu ấn triện phác thảo bằng gốm do nghệ nhân Trần Độ thực hiện để trưng cầu ý kiến của các nhà khoa học, sử học…, từ đó chọn ra phương án phục dựng cuối cùng.

Kỳ vọng của tỉnh

Cuộc tọa đàm khoa học về vấn đề sắc phong, ấn triện thời Tây Sơn do UBND tỉnh Bình Định phối hợp với Bảo tàng Lịch sử VN tổ chức vào ngày 5.6 vừa qua tại Hà Nội cũng là nhằm bàn cách làm sống lại những giá trị văn hóa tinh thần vô giá đó, và tìm cách đưa chúng trở về với mảnh đất đã sinh ra “người anh hùng áo vải”, như một hành động “về nguồn”, bày tỏ lòng tôn kính với bậc tiền nhân đã lập lên một triều đại tuy ngắn ngủi, nhưng lẫy lừng trong lịch sử vương triều Việt.

Theo tiến sĩ Nguyễn Đình Chiến – Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử VN, cho đến nay, các di sản văn hóa vật chất thời Tây Sơn chỉ còn lại lẻ tẻ. Trong đó, các ấn triện thời Quang Trung hiện còn chủ yếu là các loại ấn của võ quan (một số hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử VN). Các quả ấn của vua (tức là các kim bảo) dưới thời Tây Sơn đến nay đều không còn, mà chỉ có thể biết được hình dấu trên các bản sắc phong, chỉ, truyền. Theo TS Phạm Quốc Quân – Giám đốc Bảo tàng Cách mạng VN, Ủy viên Hội đồng Giám định cổ vật: Trên văn bản, ấn thời Quang Trung để lại cũng rất ít.

Trong đó, ông Quân cho rằng, hai loại ấn được đóng trên sắc phong thần (chẳng hạn, dấu ấn “Hòa nhu chi bảo” – phong thần cho đình làng Bát Tràng) và phong cho người có công (ấn “Sắc mệnh chi bảo”) là đáng quan tâm hơn cả. Nhưng để phục dựng thì theo ông Quân trước hết nên ưu tiên cho ấn triện “Sắc mệnh chi bảo”, là ấn phong cho người có công, chứ không phải là ấn phong thần. Tuy nhiên, bản thân các dấu ấn lưu lại trên các sắc phong chỉ mới cho hình dung về phần đế ấn, chứ không cho biết chất liệu ấn (bằng đồng hay bằng vàng…) cũng như các tiểu tiết khác chẳng hạn như núm ấn…

Giải pháp được các chuyên gia bảo tàng đưa ra là có thể tham khảo bộ sưu tập 85 chiếc ấn bằng vàng, bạc mạ vàng và ngọc đã được Bảo tàng Lịch sử VN công bố năm 2009, cũng như các hình rồng trên chuông Tây Sơn (tính đến năm 1996, tính từ Huế trở ra Bắc Giang đã thống kê được 181 quả chuông). Trong đó, có một quả hiện treo tại chùa Bảo Minh (Bát Tràng).

Trong lịch sử, ấn “Sắc mệnh chi bảo” ở thời Nguyễn nặng khoảng 8kg, làm bằng vàng 10 tuổi. Tuy nhiên, theo ông Trần Bắc Hà – Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN, đơn vị nhận trách nhiệm bảo trợ và kêu gọi kinh phí để phục dựng ấn Tây Sơn – thì không nên làm bằng vàng vì sẽ gây tốn kém, chi phí đó nên để dành cho công tác an sinh xã hội; thay vào đó, có thể làm bằng bạc, hoặc đồng mạ vàng. Chữ “vàng” đáng giá hơn cả nằm trong tâm thế của người tưởng nhớ!

Còn một kênh tham khảo đáng tin cậy nữa có thể giúp cho việc phục dựng hiệu quả hơn: Đó là bộ sưu tập 7 ấn triện thời Tây Sơn vô cùng quý hiếm mà nhà sưu tập tư nhân Nguyễn Văn Phẩm hiện đang nắm giữ. Trong đó, đáng quý nhất là chiếc ấn triện đi kèm chiếu phong chức của một quan tri huyện phong cho một vị hương mục – được đánh giá là món “độc nhất vô nhị”.

Thiên An (Nguồn: http://www.laodong.com.vn)

Hoàng Thủy

Các khu kinh tế (KKT) đang dần khẳng định vai trò định hướng, là động lực cho sự bứt phá kinh tế miền Trung.

Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Khu kinh tế (KKT) Chân Mây – Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) có tổng diện tích trên 27.108 ha, bao gồm 5 khu chức năng chính: khu phi thuế quan, khu đô thị, khu công nghiệp và khu công nghệ cao, khu du lịch và khu cảng. KKT Chân Mây – Lăng Cô sẽ là động lực để Thừa Thiên Huế phát triển hướng ra biển. Tính chất của KKT Chân Mây – Lăng Cô sẽ là đô thị cảng, trung tâm giao thương quốc tế, trung tâm du lịch nghỉ dưỡng và phát triển các ngành công nghiệp sạch, công nghiệp kỹ thuật cao.

Ông Hồ Sỹ Nguyên, Trưởng Ban quản lý KKT Chân Mây – Lăng Cô cho biết, cơ sở hạ tầng thiết yếu của KKT này đã và đang được hoàn thành và gấp rút xây dựng. Đến nay, tổng mức đầu tư các dự án kết cấu hạ tầng được phê duyệt trên địa bàn là 2.085 tỷ đồng. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được ngân sách bố trí lũy kế đến năm 2009 là 963,7 tỷ đồng (trong đó ngân sách trung ương 840 tỷ đồng, vốn địa phương 123,7 tỷ đồng).

Theo ông Nguyên, đến nay, trên địa bàn KKT đã có 33 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư, với tổng vốn đăng ký 31.242,9 tỷ đồng. Trong đó, có 10 dự án nước ngoài, với tổng vốn đăng ký 1.406,8 triệu USD (chiếm 70% vốn FDI đăng ký của toàn tỉnh), 23 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 8.770,3 tỷ đồng.

Cũng theo ông Nguyên, giai đoạn 2010-2015, tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ ưu tiên tập trung tạo mọi điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm; hoàn thành các dự án quy hoạch chi tiết xây dựng cảng Chân Mây và Khu đô thị mới Chân Mây; hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội thiết yếu các khu tái định cư… Hoàn thành việc đầu tư xây dựng các trục giao thông quan trọng trên địa bàn như: đường trục Trung tâm đô thị mới Chân Mây, đường nối Quốc lộ 1A vào cảng Chân Mây, hệ thống đường kết nối các khu chức năng…

Trong khi KKT Chân Mây – Lăng Cô đang có dấu hiệu khởi sắc, không chỉ về tình hình thu hút đầu tư, mà còn được định hướng cụ thể hơn về chiến lược phát triển lâu dài. Tại Quảng Nam, KKT mở Chu Lai cũng được chính quyền tỉnh Quảng Nam nỗ lực tìm ra những hướng đi mới, dựa trên thế mạnh sẵn có kết hợp với chiến lược đồng bộ hoá hệ thống hạ tầng để thu hút đầu tư.

Mới đây, Ban Quản lý KKT mở Chu Lai đã trao giấy chứng nhận đầu tư cho 3 nhà đầu tư vào KCN Bắc Chu Lai, với tổng vốn đầu tư 615 tỷ đồng, gồm Nhà máy sản xuất máy phát điện và máy nông ngư cơ Hữu Toàn (vốn đầu tư 200 tỷ đồng), Nhà máy sản xuất các sản phẩm sau kính (vốn đầu tư 228 tỷ đồng) và Nhà máy sản xuất viên nén tái sinh chất liệu gỗ xuất khẩu (187 tỷ đồng). Đây có thể xem là tín hiệu tích cực đối với KKT mở Chu Lai.

Với 3 giấy chứng nhận đầu tư được trao lần này, từ đầu năm 2010 đến nay, Ban Quản lý KKT mở Chu Lai đã cấp phép cho 8 dự án đầu tư với tổng vốn 5.202 tỷ đồng (tương đương 274 triệu USD), bằng 140% so với tổng vốn đầu tư được cấp phép cả năm 2009. Trong đó, đã có 5 dự án triển khai xây dựng (Nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu Minh Dương Chu Lai được cấp phép tháng 1/2010 và sẽ hoàn thành đưa vào hoạt động từ tháng 6/2010, là một trong những nhà máy có tốc độ triển khai đầu tư nhanh nhất tại KKT mở Chu Lai).

Gần đây nhất, Công ty cổ phần Ô tô Trường Hải chính thức khởi công xây dựng công trình Cảng Tam Hiệp, nhà máy xe buýt; khánh thành nhà máy thép, nhà máy cơ khí cơ bản và đón nhận Quyết định thành lập Trường Cao đẳng nghề Chu Lai Trường Hải. Đây có thể xem là bước ngoặt cho KKT mở Chu Lai về mặt xã hội hoá đầu tư hạ tầng phục vụ KKT, cũng như định hướng bước đầu cho sự phát triển của KKT trong tương lai.

Không dừng ở đó, kế hoạch phát triển Cụm cảng hàng không Chu Lai đã được Chính phủ phê duyệt đến năm 2015 sẽ trở thành cụm cảng hàng không vận chuyển hàng hoá lớn nhất miền Trung có thể theo hình thức BOT. Điều này sẽ hỗ trợ tích cực không chỉ riêng cho Chu lai, mà cho cả KKT Dung Quất (Quảng Ngãi).

Khác với hai KKT trên, KKT Nhơn Hội (Bình Định) từng bước khẳng định vị trí, tầm quan trọng, trở thành một động lực cho sự phát triển của tỉnh Bình Định. KKT Nhơn Hội được xây dựng và phát triển thành KKT tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực, có quy chế hoạt động riêng, bao gồm: khu phi thuế quan, khu công nghiệp, khu cảng biển và dịch vụ cảng biển, các khu du lịch, dịch vụ và khu đô thị mới, vận hành theo cơ chế ưu đãi đặc biệt, là trung tâm và động lực phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Định và của khu vực miền Trung.

Ông Man Ngọc Lý, Trưởng Ban quản lý KKT Nhơn Hội cho biết, KKT được xây dựng ở vị trí thuận lợi về kết cấu hạ tầng như hệ thống giao thông, cảng biển, sân bay, viễn thông, cấp điện, cấp nước…, tạo điều kiện tiếp cận gần và nhanh chóng với thị trường các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm với mục đích để giảm chi phí thấp nhất cho sản phẩm hàng hóa dịch vụ của mình, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

Theo ông Lý, đến nay, KKT Nhơn Hội đã thu hút 58 dự án đăng ký đầu tư với tổng vốn 3,3 tỷ USD, trong đó có 19 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư, với vốn đăng ký 15.700 tỷ đồng (951 triệu USD), có 3 dự án nước ngoài với vốn đăng ký 314 triệu USD. Hiện có 5 dự án đi vào hoạt động.

Khu công nghiệp Nhơn Hội A đang hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật chờ  đón nhà đầu tư

Để biến Nhơn Hội trở thành KKT trọng điểm cho cả khu vực miền Trung, UBND tỉnh Bình Định đã quy hoạch phân chia thành các khu chức năng, trong đó có Khu A – Khu công nghiệp Nhơn Hội do Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn (Saigon Invest Group) đầu tư kinh doanh hạ tầng, với tổng vốn đầu tư 1.000 tỷ đồng, được chính quyền địa phương đánh giá cao về tiến độ triển khai, cũng như công tác xúc tiến đầu tư vào khu này.

Mới đây, Công ty cổ phần xây dựng thương mại dịch vụ Khang Thông (TP.HCM) cho biết, sẽ khởi công xây dựng khu phi thuế quan thuộc KKT Nhơn Hội. Với vốn đầu tư đăng ký khoảng 4.010 tỷ đồng, Dự án có tổng diện tích đất 600 ha, sẽ xây dựng 3 khu chính là khu phi thuế quan (490 ha), khu công nghiệp (70 ha), khu cảng nước sâu (40 ha).

Có thể nói, các tỉnh duyên hải miền Trung xác định các KKT là động lực phát triển mũi nhọn cho cả vùng. Để biến các KKT đó trở thành động lực, chính quyền các địa phương cần sự hỗ trợ rất nhiều từ Trung ương, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội trong việc đầu tư hạ tầng hỗ trợ phát triển, tạo lực hút thật sự đối với các dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước đến với khu vực.

http://www.baodautu.vn/

Đăng bởi: lehobac | 08/06/2010

Nét ngọc Hầm Hô

Hầm Hô hay “rừng đá” được người Bình Định gọi bằng những mỹ từ “bản giao hưởng của non và nước” hay “cửa ngõ thiên đường”.

Tới đây rồi mới thấy, mọi ngôn từ đều bất lực khi miêu tả vẻ đẹp của danh thắng này.

Từ thành phố Quy Nhơn xuôi theo quốc lộ 1 về hướng bắc, gặp quốc lộ 19 rẽ ngang, đi ngược về phía Tây Sơn khoảng hơn 5km nữa là đến Hầm Hô, vùng đất sơn kỳ thủy tú nằm trong lòng con sông Kút, ẩn mình hoang sơ, kỳ bí giữa đại ngàn. Để vào sâu bên trong, sẽ có hai chọn lựa cho du khách là đi bằng đường bộ hay đường thủy. Nếu chọn đường bộ, du khách có thể thong dong trên chuyến xe ngựa xuyên qua con đường một phía tựa sông, một bên gác núi; còn đi đường thủy, khách sẽ có hơn nửa cây số bồng bềnh trên nhánh sông nhỏ trước khi vào Hầm Hô.

Du khách xuôi đò trên nhánh sông nhỏ trước khi vào Hầm Hô

Chúng tôi đã chọn hành trình đường thủy. Những chiếc đò của người dân địa phương lặng lẽ xuôi theo một nhánh sông Kút. Dòng nước trong vắt đưa chúng tôi đi xuyên qua những chùm cây bụi ven bờ lòa xòa, in bóng trên mặt nước. Nhiều cây có dáng bon-sai nằm la đà, thả dây leo quấn quýt thật ấn tượng. Không gian chỉ một màu xanh mát mẻ. Tiếng chim rừng ríu ran, tiếng sào tre rẽ nước đẩy con đò lướt đi nhịp nhàng giữa vùng cây lá gióng giả tiếng ve. Thi thoảng, một con thác nhỏ hay một ghềnh đá thoai thoải bất giác hiện ra, nắng ào ạt tuôn qua những vạt lá non. Cảm giác êm đềm, yên ả của một thiên nhiên nguyên sơ, trong lành bao phủ.

Khi vừa hết chặng đi suối, Hầm Hô mở ra choáng ngợp trước mắt chúng tôi – hệt như hòn non bộ khổng lồ giữa thiên nhiên. Cảnh quan núi rừng hùng vĩ bao quanh, núi cao ngất phủ xanh những lớp rừng nguyên sinh, mây trắng trôi ngang những mỏm đá muôn hình vạn dáng. Mặt nước phẳng lặng, khi réo rắt luồn uốn theo địa hình hiểm trở. Chúng tôi rời đò, len lách vượt qua con đường độc đạo hiểm trở, có đoạn phải ép sát người mới lọt qua. Những vách đá cheo leo thử thách du khách khi điểm tựa chỉ là những mỏm nhô, gờ bám chênh vênh, cảm giác khá mạo hiểm khi nhìn xuống dưới chân – nơi con suối bắt đầu đổ dốc và cua gấp, tạo nên những ghềnh thác lớn nhỏ. Người dân địa phương đặt cho “phiên khúc” những cảnh quan kỳ thú nơi đây những cái tên nôm na, đầy ấn tượng, như hòn Trào, hòn Vò Rượu, Đá Dựng, thác Cá Bay, Cửa Sanh-Cửa Tử, Vực Sặc, Đỉnh Sương Mù, Hòn Bà, Đá Cháy…


Hầm Hô đẹp bởi cảnh quan núi rừng hùng vĩ
Hầm Hô như hòn non bộ khổng lồ giữa thiên nhiên

Ngược về phía thượng nguồn, độ dốc của địa hình càng lớn, suối đổ ầm ào, dữ dội. Vào mùa lũ, Hầm Hô nhận nước từ Đá Hàng, tuôn đổ xuống các hang vực sâu, tung bọt trắng xóa. Trong mùa nước cạn, những ngày trời trong xanh, khi nắng ban mai rọi xuống, từng khối đá hoa cương ánh lên muôn màu, lóng lánh trên làn nước biếc. Leo qua Hòn Đá Thành, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn một đoạn Hầm Hô từ trên cao, để cảm nhận rõ vẻ hoành tráng của thiên nhiên.

Trước kia, Hầm Hô là căn cứ địa của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, nghĩa binh Cần Vương chống Pháp của Mai Xuân Thưởng và cũng là nơi hoạt động của lực lượng cách mạng ở địa bàn tây nam huyện Tây Sơn những năm chống Mỹ cứu nước. Đến đây, du khách không chỉ được thưởng ngoạn cảnh đẹp kỳ ảo của thiên nhiên mà còn có dịp ôn lại những ngày tháng hào hùng của lịch sử.

Giữa Hầm Hô, thả hồn với xanh trời, xanh núi, xanh suối, xanh cây, những ngày hè oi ả của miền Trung trở nên thư thái, yên ả.

Phương Anh

Nguồn: http://www.phunuonline.com.vn

Đăng bởi: lehobac | 08/06/2010

Phục dựng ấn triện Tây Sơn

Bình Định quê hương vị anh hùng áo vải muốn phục dựng ấn thời Quang Trung như hành động trở về nguồn, tôn vinh triều đại lẫy lừng và hướng tới Nghìn năm Thăng Long Hà Nội.

UBND tỉnh Bình Định phối hợp ngân hàng BIDV sáng 5-6, tổ chức tọa đàm khoa học về sắc phong, ấn triện thời Tây Sơn và tính chuyện phục dựng. Theo thống kê năm 1998, chúng ta tìm được 18 quả chuông Tây Sơn tính từ Huế ra Bắc Giang, ấn triện còn lại không nhiều. Riêng đình Bát Tràng hiện lưu giữ ba chiếc ấn thời đại Tây Sơn.

Ấn triện thời Quang Trung không còn nhiều, dựa vào văn bản để lại có một số ấn: “Quảng vận chi bảo” trong tờ chiếu vua Quang Trung gửi tướng Nguyễn Thiếp, “Triều đường chi ấn” lưu lại trong sắc phong thần Việt Yên huyện Thanh Trì, “Tiên nhu chi bảo”, “Sắc mệnh chi bảo” trong một số văn bản, sắc phong lưu truyền đến nay.

Những loại ấn trên được gọi là Kim Ngọc bảo tỷ, loại ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại, ấn được làm bằng ngọc gọi là ngọc tỷ, đúc bằng vàng, bạc, mạ vàng được gọi là Kim bảo tỷ. Vì vậy Kim ngọc bảo tỷ là bảo vật quốc gia tượng trưng cho đế quyền.

Nhiều ý kiến cho rằng nên phục dựng theo ấn “Sắc mệnh chi bảo”, bằng đồng, đúng với hoàn cảnh và chất liệu thời đại này. Phần đế ấn may mắn còn lưu lại trên giấy tờ không quá khó khăn trong phục dựng. Trong khi đó núm ấn là phần mơ hồ nhất.

Ông Phạm Quốc Quân giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Ủy viên Hội đồng giám định cổ vật cho rằng, nên tham khảo mẫu núm hình rồng ở thời Nguyễn, vì có nhiều kế thừa từ thời Tây Sơn.

Ông Phạm Công Việt, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm cho rằng, ấn Tây Sơn khá phong phú qua các triều: Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh và Bảo Hưng. Tuy cứ liệu ấn để lại trên văn bản có nhiều lựa chọn, nhưng nên chọn ấn triện dùng trong quốc gia đại sự.

Ông Việt cho rằng, khi phục dựng ấn cần lưu ý: chất liệu, núm ấn, triện tự, đế ấn, họa tiết hoa văn. “Quảng vận chi ấn” là mô hình đáp ứng khá chuẩn các tiêu chí đề ra. Riêng phần núm ấn nên dùng biểu tượng rồng để trang trí, có thể tham khảo mẫu rồng ở các chuông Tây Sơn để lại: chuông chùa Bảo Minh ở Bát Tràng, chùa Hà (Hà Nội), hoặc mẫu hình rồng cuối thời Lê.

Ấn “Sắc mệnh chi bảo” ở thời Nguyễn nặng khoảng 8kg, làm bằng vàng 10 tuổi, được đề xuất để nghiên cứu hướng phục dựng. Đại diện ngân hàng BIDV, nơi đứng ra lãnh trách nhiệm bảo trợ và kêu gọi kinh phí để phục dựng ấn Tây Sơn, nêu ý kiến không nên làm bằng vàng. Ấn bằng vàng khá tốn kém, nên để dành khoản tiền này cho công tác an sinh xã hội. Có thể làm ấn bằng bạc, hoặc đồng mạ vàng.

Tại buổi tọa đàm, ông Trần Độ nghệ nhân Bát Tràng đem đến năm mẫu ấn triện phác thảo chất liệu bằng gốm phục vụ cho công tác nghiên cứu, phục dựng. Các mẫu này cùng với các ý kiến của các nhà khoa học, lịch sử, khảo cổ giúp thống nhất loại ấn sẽ phục dựng trong thời gian tới.

T.Toan

Nguồn: http://www.tienphong.vn

Bài viết cũ hơn »

Chuyên mục

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.